Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Đau bụng, ợ hơi: Chớ xem thường!

Những triệu chứng trên dễ làm cho nhiều người lầm tưởng với căn bệnh đau dạ dày, một căn bệnh của thời hiện đại do áp lực công việc cộng với việc ăn uống thất thường…

Nhưng thực tế, rất có thể bạn đang bị trào ngược dạ dày thực quản hoặc đang bị nhiễm vi khuẩn HP - một trong những biến chứng nguy hiểm có thể gây ung thư. 
Trào ngược dạ dày thực quản
Giữa dạ dày và thực quản có một “van” gọi là cơ vòng thực quản (hay cơ thắt thực quản dưới) có tác dụng co bóp giúp đẩy dịch vị từ dạ dày xuống tá tràng và ruột non, đồng thời như một miệng túi giữ chặt không cho dịch vị trào lên thực quản. Vì một lý do nào đó mà cơ vòng này “khóa” không chặt, làm dịch vị từ dạ dày bị trào ngược lên thực quản gây ra hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ).
ThS-BS Dương Phước Hưng, Trưởng khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho biết, các triệu chứng đặc trưng của bệnh TNDDTQ là ợ nóng, nóng rát vùng sau xương ức cùng các triệu chứng khác như ợ chua, ợ hơi nhiều, nấc cục, buồn ói… Đôi khi còn có nhiều triệu chứng như ho khan kéo dài, khàn giọng, vướng cổ, khó nuốt, hen suyễn… khiến rất dễ lầm với các bệnh khác ở vùng họng hay bệnh hô hấp, bệnh tim (do cơn đau ngực).
 
Do đó, khi thăm khám, bác sĩ chuyên khoa phải loại trừ các bệnh tim hay bệnh phổi rồi mới nghĩ đến bệnh TNDDTQ. BS Hưng cũng cho biết, các triệu chứng của bệnh dạ dày, hội chứng ruột kích thích, TNDDTQ đều có biểu hiện trùng lắp nên rất khó phân biệt.
TNDDTQ không được điều trị dứt điểm có thể đưa đến viêm thực quản, trầy xước thực quản hay xuất huyết. Tuy chưa có bằng chứng TNDDTQ trực tiếp gây ung thư, nhưng nếu bị tái đi tái lại nhiều lần dễ dẫn đến bệnh Barrett thực quản thì có khả năng gây ung thư thực quản. Hiện nay, hầu hết bệnh TNDDTQ đều được điều trị khỏi bằng nội khoa với các thuốc ức chế bơm proton. Chỉ định điều trị ngoại khoa rất giới hạn, bác sĩ chỉ tiến hành phẫu thuật khi thất bại về nội khoa, và phương pháp điều trị ngoại khoa hiện nay là tạo van ở đáy vị theo phương pháp Toupet hay Nissen.
Theo BS Nguyễn Minh Ngọc, Phó Trưởng khoa Tiêu hóa BV Nhi Đồng II, ở trẻ em, tỷ lệ bị TNDDTQ đến khám khá đông, tuy nhiên, ở trẻ nhũ nhi là TNDDTQ sinh lý (với hiện tượng trớ nhẹ thường xảy ra sau ăn, sau bú), khi cơ vòng thực quản vững chắc hơn thì các triệu chứng TNDDTQ sẽ tự bớt và hết đi sau 12 tháng.
 
Đối với trẻ lớn, các triệu chứng TNDDTQ cũng thường có biểu hiện tương tự người lớn. Tuy nhiên, cách thể hiện và khả năng khai bệnh của trẻ em khác người lớn, nên phụ huynh cần theo dõi các triệu chứng của con em mình mà “khai báo” với bác sĩ để được định bệnh chuẩn xác hơn. Khi TNDDTQ đã  bị biến chứng, các bé cũng thường có các triệu chứng dễ nhầm lẫn với các bệnh đường hô hấp như bị viêm phổi (khò khè, ho khan về đêm), viêm phổi dạng suyễn (có những cơn tím tái, ngưng thở), viêm mũi họng, viêm tai, viêm thanh quản (khàn tiếng), viêm thực quản (ói ra máu)…
 
Nếu thấy các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần, cộng với bé bị biếng ăn, chậm lớn… cha mẹ nên cho bé khám ở cả chuyên khoa tiêu hóa. Theo BS Ngọc, có đến 90% trẻ em đến khám và phát hiện bị TNDDTQ từ các triệu chứng của bệnh tiêu hóa, các triệu chứng của đường hô hấp hay viêm thực quản nặng (ói ra máu) có tỷ lệ thấp hơn. Ở trẻ em, TNDDTQ thường lành tính, nếu được chữa trị sớm thì không bị những biến chứng nặng nề như người lớn. Tuy nhiên, những trẻ lúc nhỏ bị bệnh lý TNDDTQ thì lớn lên dễ có khả năng tái lại hơn.
 
Hiện nay, theo BS Hưng, khoa học chưa tìm được nguyên nhân cụ thể gây ra TNDDTQ, nên cách phòng ngừa chỉ là khuyên bệnh nhân nên ăn uống điều độ, tránh những thực phẩm có nhiều chất chua và cay, tránh dùng các thức uống có cồn…
 
Ngoài ra, bệnh nhân bị TNDDTQ cần thay đổi lối sống bằng cách: chia nhỏ các bữa ăn, tránh ăn quá no, tránh nằm ngửa, mặc đồ quá chật sau khi ăn, giảm lượng mỡ, gia vị trong thức ăn, hạn chế thuốc lá, rượu, nước uống có gas, cà phê đậm, trái cây chua, kê gối cao khi ngủ, không tham gia hoạt động thể lực có động tác cúi gập người ra phía trước hoặc chạy bộ.
Vi khuẩn HP gây viêm loét dạ dày
Vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori) là dạng xoắn khuẩn gram âm, có ba-năm chiên mao, sống trong lớp nhầy phủ trên niêm mạc dạ dày. Thông thường, dạ dày tiết ra acid để tiêu hóa thức ăn, nhưng đồng thời nó cũng có một lớp nhầy để bảo vệ niêm mạc dạ dày.
 
Nhưng vì một lý do nào đó, acid dịch vị tăng lên nhiều (thường ảnh hưởng  bởi yếu tố thần kinh) hoặc lớp nhầy này bị tiết ra ít đi (không đủ bảo vệ niêm mạc) thì “ngoại bang” rất dễ tấn công. Lúc HP “tiến vào” dạ dày, nếu hàng rào chống đỡ thành dạ dày yếu thì nó sẽ chui vào dưới lớp nhầy, “đánh chiếm” và xâm nhập dễ dàng vào lớp niêm mạc dạ dày, sau đó phá hủy (bằng việc tiết ra các men và độc tố tế bào) làm tổn thương lớp niêm mạc dạ dày, gây viêm loét.
BS Nguyễn Minh Ngọc cho biết, nhiễm HP không có triệu chứng đặc hiệu, chỉ có các triệu chứng của bệnh viêm loét dạ dày, tuy nhiên vẫn còn các nguyên nhân khác gây loét dạ dày tá tràng như nguyên nhân thể dịch và thần kinh, nhất là bị stress, mất ngủ kéo dài. Nhưng không phải cứ vi khuẩn HP nào có “visa” vào miệng rồi “vi vu” đến dạ dày đều “quậy phá” gây ra kết quả viêm, loét, mà chúng còn phải đủ “quân số” và phụ thuộc vào các yếu tố khác nữa, nên có khi nó chỉ “thăm viếng” dạ dày rồi lại đi ra ngoài theo phân. Trường hợp những người lớn bị viêm loét tái đi tái lại nhiều lần không điều trị khỏi, cộng với cơ địa riêng thì mới gây biến chứng nặng có thể dẫn tới ung thư.
Đối với trẻ em, triệu chứng phổ biến nhất khi bị viêm dạ dày do nhiễm HP là đau bụng vùng thượng vị hoặc quanh rốn (nhiều lần trong tuần), đau ban đêm, đau có liên quan đến bữa ăn (lúc đói quá hoặc no quá), có khi nôn ói, nặng hơn thì có thể ói ra máu, tiêu ra phân đen như bả cà phê (do xuất huyết trong dạ dày), thiếu máu... Bệnh hay gặp ở trẻ lớn 9-10 tuổi trở lên, nhưng trẻ ba-bốn tuổi đôi khi vẫn bị nhiễm HP và gây ra viêm loét với biến chứng nặng như ói ra máu.
Có rất nhiều phác đồ điều trị diệt HP (điều trị ít nhất khoảng từ bốn-tám tuần, trong đó hai tuần đầu là “tấn công”, sau đó là duy trì) vì khả năng kháng thuốc của HP do việc tái nhiễm. HP lây nhiễm qua đường ăn uống, đường trực tiếp (miệng-miệng) và nghề nghiệp (như các bác sĩ nội soi tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh).
 
Do đó, cách phòng chống tốt nhất là ăn uống hợp vệ sinh, rửa tay sạch sẽ sau khi đi cầu và trước khi ăn, không mớm thức ăn trực tiếp từ miệng qua miệng như các bà mẹ đút cơm cho con, tránh dùng đũa gắp thức ăn chung...
 (Theo Phụ nữ TPHCM)

Những loại thực phẩm dễ gây đầy hơi


Ăn nhiều những thực phẩm sau là nguyên nhân bị đầy hơi. Đã đến lúc bạn cần một chế độ ăn hợp lý hơn để tránh hiện tượng này.
1. Đầy hơi là gì?

Đầy hơi là do khí đường ruột tích tụ khiến ta cảm thấy khó chịu và đau. Thường thì chúng ta không biết nguyên nhân chính xác gây ra chứng đầy hơi nên khó khăn tìm ra giải pháp cụ thể và rút kinh nghiệm cho bản thân khi dùng thực phẩm.

Carbohydrate tinh chế trong bánh mì, mì ống, khoai tây và gạo là nguyên nhân phổ biến đầy hơi.

2. Một số thực phẩm dễ gây đầy hơi

- Ngũ cốc: Mặc dù ngũ cốc là rất cần thiết đối với chúng ta nhưng một số loại ngũ cốc có chứa chất xơ hòa tan raffinose có thể gây đầy hơi không mong muốn. Các loại đó bao gồm lúa mạch, yến mạch và lúa mì.



- Rau củ quả: Một số loại rau như hành tây, cần tây, củ cải, , cà rốt, súp lơ, cải bắp, bông cải xanh và cây họ đậu có chứa carbohydrate có thể tạo ra khí.

- Đường trong trái cây: Một số trái cây như mận, chuối, nho khô, mơ và táo có thể phát sinh đầy hơi. Mận, nho và táo có chứa fructoza, sorbitol, chất xơ hòa tan cũng có thể tạo ra khí.

- Sản phẩm sữa: Đường tự nhiên trong sữa là lactose có thể sản xuất khí. Những người khó tiêu thụ lactose, thường có xác suất cao bị đầy hơi khi uống hay tiêu thụ các sản phẩm từ sữa.

- Các chất làm ngọt nhân tạo: đường, sôcôla và bánh kẹo được sản xuất có thành phần là các chất làm ngọt nhân tạo có thể gây ra đầy hơi, thậm chí là tiêu chảy. Một số các chất ngọt nhân tạo đáng lưu ý là xylitol, sorbitol và mannitol.

- Đồ uống có ga: Đồ uống như bia, nước sô-đa, nước ép trái cây và rượu vang có thể chứa fructose, sorbitol hoặc cacbonat. Tất cả đều có thể làm phát sinh khí đường ruột.

- Thực phẩm béo: Tiêu thụ các loại thực phẩm có nhiều chất béo có thể khiến quá trình tiêu hóa diễn ra chậm chạp. Các loại thức ăn chiên, các loại thịt chứa lượng chất béo cao như thịt xông khói, thịt bò, thịt gia cầm còn da và sản phẩm sữa chứa nhiều chất béo.

- Cần lưu ý rằng thực phẩm không phải là nguyên nhân duy nhất của chứng đầy hơi. Một số thói quen như hút thuốc và nhai kẹo cao su có thể góp phần vào sự ợ hơi và đầy hơi.

Theo aFamily

Ăn kiêng quá độ có thể khiến gan nhiễm mỡ

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh gan nhiễm mỡ, bao gồm các nhân tố như dinh dưỡng bất hợp lý, nghiện rượu, tiểu đường, áp lực tâm lý cao...

Có mối quan hệ mật thiết giữa béo phì và bệnh gan, do đó đối với người béo phì hay thừa cân việc giảm béo hợp lý có thể đem lại hiệu quả phòng ngừa gan nhiễm mỡ, tuy nhiên mù quáng giảm cân hay ăn kiêng giảm béo cũng rất có thể tăng nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ. Bác sĩ chỉ ra 3 nguyên nhân của việc ăn kiêng khiến gan nhiễm mỡ, đó là:
 
Ảnh minh họa
 
Quá hạn chế thực phẩm tiếp nạp, cơ thể không có đủ năng lượng, và sẽ phải tự điều động chất béo và protein dự trữ trong các bộ phận của cơ thể để chuyển hoá thành năng lượng. Trong quá trình chuyển hoá năng lượng, chất béo, protein sẽ thông qua gan làm “trạm trung chuyển”, khiến cho một lượng lớn axít béo đi vào gan và tích tụ tại gan.
Việc chuyển hoá của các vật chất béo cần có sự giúp đỡ của chất lipoprotein, để tạo ra lipoprotein lại cần axít béo, protein và choline. Nếu những vật chất này bổ sung không đủ do dinh dưỡng “nghèo nàn” khi ăn kiêng quá độ, thì sẽ không thể tạo ra được lipoprotein, từ đó ảnh hưởng đến việc chuyển hoá chất béo của gan và lượng chất béo không chuyển hoá này lưu lại quá nhiều khiến gan bị nhiễm mỡ.
Ngoài ra, chế độ ăn kiêng còn làm cho việc tiếp nạp các chất như: đường, chất béo, protein, khoáng chất và cellulose của cơ thể bị hạn chế. Khi đó, cơ thể sẽ phải sản sinh đền bù, và khiến đường, protein chuyển hoá thành chất béo “nằm” lại ở gan.
(Theo An Ninh Thủ Đô)

Sau ngày lễ: Coi chừng chứng khó tiêu

Chứng khó tiêu không phải là căn bệnh trầm trọng nhưng nó lại khiến bạn thấy mệt mỏi với cảm giác đầy hơi hay ợ hơi, buồn nôn và đôi khi là nôn.

Trong y tế, khó tiêu gọi là rối loạn tiêu hóa hay rối loạn dạ dày. Khó tiêu là cảm giác nóng ran và đau ở bụng, nó thường đi kèm với các vấn đề khác của dạ dày như ợ hơi, đầy hơi, buồn nôn và đôi khi là nôn.
Khó tiêu không phải là vấn đề nghiêm trọng của sức khỏe. Tuy nhiên, đôi khi tình trạng khó tiêu trở nên nghiêm trọng khi người bệnh tự chữa trị hay tự mua thuốc uống mà không có kiến thức và không có ý kiến của chuyên gia. Thói quen này rất nguy hiểm vì nhiều khi người bệnh không thể biết rõ nhất những triệu chứng của mình.
Triệu chứng khó tiêu biểu hiện khác nhau ở những người khác nhau. Tuy nhiên, chúng thường gồm các triệu chứng như táo bón, ăn không ngon, tiêu chảy, ợ chua, đầy hơi… và có cảm giác khó chịu ở vùng dạ dày. Ở một số người triệu chứng khó tiêu biểu hiện “mạnh mẽ” hơn như hình thành túi khí trong dạ dày và nôn mửa. Nôn mửa cũng có thể đi kèm với đau ở chân, đặc biệt là ở phần dưới.
Hầu hết các triệu chứng của chứng khó tiêu giống triệu chứng của một số bệnh khác. Vì vậy, việc chuẩn đoàn của bác sĩ để xác định hướng điều trị cho bạn là điều hoàn toàn cần thiết. Bạn có kinh nghiệm trong việc tự điều trị chứng khó tiêu không có nghĩa là nó đúng với mọi lúc và mọi người, do đó đừng tự điều trị cho mình hay người thân để tránh những hậu quả đáng tiếc.
Chứng khó tiêu có nhiều nguyên nhân, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng này là chế độ ăn uống và sinh hoạt thiếu khoa học. Ăn quá nhiều chất béo, uống rượu quá nhiều, hút thuốc lá, uống quá nhiều cà-phê, ăn nhiều và ăn quá nhanh, ăn nhiều thức ăn cay, lo âu, căng thẳng,…
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như loét tá tràng, loét dạ dày, viêm tụy cấp, viêm dạ dày cấp tính và do bệnh ung thư. Chứng khó tiêu cũng có thể xảy ra do sử dụng một số loại thuốc như aspirin, thuốc kháng sinh hoặc thuốc kháng viêm. Béo phì hay tăng cân quá nhanh cũng là 2 nguyên nhân phổ biến gây ra khó tiêu.
 
Để tránh chứng khó tiêu, điều quan trọng nhất là nên chú ý chế độ ăn uống của mình, đặc biệt là nên chọn loại thực phẩm không gây hại cho dạ dày và không bắt dạ dày phải làm việc quá sức để tránh hậu quả không như mong muốn.
 
 (Theo aFamily)

Dư axít dạ dày

Bệnh dư axít dạ dày thể hiện bằng các triệu chứng như ợ chua, chua miệng, đầy hơi... Nguyên nhân là do hàm lượng a xít quá nhiều trong dạ dày.

Có nhiều nguyên nhân gây dư axít, trào ngược a xít cấp, như những ai bị béo phì, uống rượu quá nhiều, hút thuốc lá, ăn nhiều dầu mỡ, ăn quá cay và hay ăn vặt... có xu hướng bị dư axít. Phụ nữ mang thai cũng có thể là nạn nhân của chứng trào ngược axít.
Triệu chứng phổ biến nhất của tính axít cấp là ợ chua mà mọi người thường cho là đau tim. Các triệu chứng khác là có cảm giác thức ăn bị mắc kẹt ở giữa ngực hoặc có thể cảm thấy thức ăn trào lại ra miệng (cảm thấy chua miệng), khó thở, đặc biệt là khi cố gắng ngủ, và nặng nề trong lồng ngực.
Biện pháp khắc phục quan trọng nhất trong việc kiểm soát nồng độ dư axít cấp là ăn tối trước khi đi ngủ khoảng ba giờ. Ngoài ra, không uống rượu quá nhiều, không ăn quá nhiều sôcôla, không hút thuốc lá, hạn chế caffeine vì những thói quen này làm trầm trọng thêm độ chua.
Ăn thường xuyên và ăn nhẹ, ít calo. Không để bụng đói, vì nó tạo ra tính axít. Uống càng nhiều nước càng tốt, ít nhất 6-8 ly nước/ngày vì nước có tác dụng tống a xít ra khỏi cơ thể.
Uống sữa lạnh hoặc nước dừa, ăn trái cây như chuối, đu đủ giúp cải thiện tiêu hóa.
 
 (Theo Thanh niên)

Cà tím giúp giảm cân, tiêu hóa tốt

Cà tím được tiêu thụ rộng rãi bởi có giá trị dinh dưỡng cao và hàm lượng calo thấp - chỉ 20 calo/100g. Ngoài ra,nó còn giúp ích cho hoạt động của hệ tiêu hóa.

Tương tự như thịt, cà tím mang lại cảm giác no trong khi vẫn hỗ trợ được việc giảm cân và giúp kiểm soát cholesterol do hàm lượng calo thấp.
 
Người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn từ cà tím như nhồi thịt, tẩm bột rán, nướng… Ngoài ra, cà tím còn có một lượng nhất định hàm lượng kali, canxi, sắt, đồng và magiê tốt cho sức khỏe.
 
Để tránh mất đi các vitamin và khoáng chất của cà tím, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo không nên cất trữ cà tím trong tủ lạnh quá bốn ngày trước khi chế biến. Còn ở nhiệt độ phòng, giới hạn tối đa cho cà tím là 48 giờ.
 
Nếu lưu trữ trong thời gian dài hoặc thu hoạch sớm, cà tím sẽ héo, nhăn nheo, mềm và hương vị có thể hơi đắng và khó chịu. Vỏ cà tím cũng là nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng và có thể được làm thành bột.
 
Cuối cùng, sử dụng cà tím thường xuyên trong khẩu phần ăn hàng ngày cũng giúp ích nhiều cho hoạt động của ruột.
 (Theo VTV)

Giấu táo bón, có ngày vỡ ruột


Táo bón là bệnh rất phổ biến nhưng chưa được quan tâm nhiều.


Cách đây ít lâu một bệnh viện đã tiếp nhận phẫu thuật cho một bệnh nhân bị vỡ đại tràng (ruột già) bởi nguyên nhân khá đặc biệt. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng bụng căng trướng cứng như gỗ, đau dữ dội. Phẫu thuật ra, thấy ổ bụng chứa đầy phân vón cục, nặng đến 4kg. Bệnh nhân cho biết có tiền căn đau dạ dày, trước khi xảy ra tai nạn, bị táo bón không đi tiêu được nhưng vì ngại nói nên âm thầm chịu trận và hậu quả là bị như vậy.

Táo bón là bệnh rất phổ biến trong xã hội nhưng chưa được quan tâm nhiều. Tuy không phải bệnh nguy hiểm dẫn đến chết người nhưng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và làm cầu nối cho nhiều bệnh tình khác phát sinh hoặc trở nên trầm trọng hơn.

Làm sao biết bị táo bón?
Từ thập niên 90, với sự tiến bộ trong các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, đã phát hiện được một số nguyên nhân thực thể của táo bón và đã đưa ra các phương pháp điều trị bằng thủ thuật và phẫu thuật.

Cũng từ mốc thời gian này, các bác sĩ tiêu hoá mới thống nhất được định nghĩa táo bón là gì, sau một hội nghị đồng thuận tổ chức tại Rome. Theo đó, với người lớn, có từ hai hay hơn hai triệu chứng sau: đi cầu rặn gắng sức; phân cục, cứng, lổn nhổn; cảm giác đi không hết phân; cảm giác phân bị kẹt lại ở hậu môn; phải dùng tay trợ giúp hay phải uống thuốc xổ hay thụt tháo; đi cầu ít hơn ba lần trong một tuần.

Lưu ý, các triệu chứng này phải xảy ra tối thiểu mười hai tuần (không cần liên tục) trong mười hai tháng và chỉ cần bị một lần trong bốn lần đi cầu. Với trẻ em, tối thiểu hai tuần thấy dấu hiệu: phân cứng như đá cuội trong hầu hết các lần đi cầu; đi cầu ít hơn hai lần trong một tuần.

Trong kinh nghiệm thăm khám cho bệnh nhân táo bón, bác sĩ còn nhận thấy bệnh nhân đến khám thể hiện ở 3 dạng. Thường nhất là không có cảm giác mắc cầu, số lần đi cầu ít hơn hai lần trong tuần và lúc đi cầu được thì không cần trợ giúp.

Dạng thứ hai là đi cầu được mỗi ngày nhưng rất khó khăn, cảm giác mắc cầu nhưng vào nhà cầu thì không đi được, thời gian ngồi trong cầu rất lâu, phải cần trợ giúp như ép bụng, banh rộng hậu môn, dùng tay móc phân, thụt tháo, uống thuốc xổ. Dạng thứ ba là phối hợp cả hai dạng vừa nói.

Không chỉ do tắc nghẽn đường ra

Năm 2003, tác giả Anthony Lembo làm công trình nghiên cứu dịch tễ học, điều tra nguyên nhân táo bón trên 1.000 bệnh nhân và đã đưa ra những kết quả sau:
Táo bón chức năng: chiếm tỷ lệ 59%, là tình trạng táo bón không có tổn thương thực thể trên đại tràng. Nguyên nhân do chế độ ăn uống, sinh hoạt (ăn ít chất xơ, ăn ngọt nhiều, uống ít nước, thói quen đi cầu không đúng giờ và đúng cách, ít vận động thể dục…); thuốc uống (thuốc chống trầm cảm, thuốc chống co giật, thuốc điều trị Parkinson, thuốc kháng histamine, thuốc trị cao huyết áp như thuốc ức chế kênh canxi, thuốc giảm đau như morphin, codeine, thuốc bổ sung calci, thuốc điều trị đau bao tử như aluminium, bismuth…) và bệnh toàn thân (tiểu đường, chấn thương cột sống, tai biến mạch máu não,…)

Giảm động đại tràng: chiếm tỷ lệ 13%, là tình trạng táo bón có tổn thương thực thể ở đại tràng, làm đại tràng không hoạt động co bóp hay giảm co bóp để đưa phân xuống trực tràng hậu môn như có đoạn đại tràng vô hạch (bệnh Hirschprung), thiếu tế bào trung gian Cajal và một số trường hợp không tìm được nguyên nhân.

Hội chứng tắc nghẽn đường ra: chiếm tỷ lệ 25%, là tình trạng phân đã xuống đến bóng trực tràng nhưng do các tổn thương thực thể ở vùng trực tràng ống hậu môn và các cơ vùng sàn chậu, làm phân ứ đọng lại. Các tổn thương đó có thể là sa trực tràng kiểu túi, lồng trực tràng hậu môn, co thắt cơ mu trực tràng, phì đại cơ vòng trong, sa ruột non…
>> TƯ VẤN TÂM LÝ - KHÁM BỆNH MIỄN PHÍ TẠI AloBacsi.vn



Ảnh minh họa

Hội chứng tắc nghẽn đường ra, kèm giảm động đại tràng: chiếm tỷ lệ 3%, bệnh nhân có cả hai tổn thương cùng một lúc.

Để chẩn đoán đúng nguyên nhân, đầu tiên phải loại trừ táo bón chức năng bằng cách thăm khám bệnh thật kỹ. Sau khi loại trừ, mới dùng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh để tìm nguyên nhân giảm động đại tràng và hội chứng tắc nghẽn đường ra.

Tuỳ loại táo bón, có cách chữa riêng
Đối với điều trị nguyên nhân giảm động đại tràng, để kích thích đại tràng hoạt động, đầu tiên cần điều trị nội khoa bằng thuốc, với thuốc kích thích thụ thể 5-HT4 (Tegaserod) có thể kích thích đại tràng hoạt động lại bình thường. Nếu điều trị bằng thuốc không cải thiện, các bác sĩ sẽ áp dụng phương pháp đặt các điện cực vào lòng đại tràng qua nội soi và kích thích các điện cực đó.

Ngoài ra, các bác sĩ phẫu thuật còn chọn phương pháp phẫu thuật cắt đoạn đại tràng giảm động. Muốn vậy cần sử dụng phương tiện chẩn đoán chính xác hơn, là Scintigraphic, để đánh giá đoạn ruột bị giảm động.

Trường hợp co thắt cơ mu trực tràng, sẽ chích Botulinum Toxin A, dưới hướng dẫn máy đo điện cơ EMG. Sau đó cho tập phản hồi sinh học để cơ mu trực tràng trở lại bình thường. Đối với các nguyên nhân khác của bế tắc đường ra, thường là phải phẫu thuật. Nếu do nguyên nhân lồng trực tràng hậu môn, thường áp dụng phẫu thuật Delorme.

Với tiến bộ của khoa học ngày nay người ta có thể chẩn đoán được một số nguyên nhân của táo bón bằng các kỹ thuật mới, từ đó có thể điều trị các nguyên nhân gây táo bón bằng thuốc, thủ thuật hay phẫu thuật một cách hiệu quả.

 (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)