Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh trĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Khi nào cần mổ trĩ?

Bệnh trĩ rất phổ biến, bệnh không nguy hiểm nhưng gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Khi mắc bệnh, búi trĩ lồi ra, bệnh nhân thường thấy đau, chảy máu. Thông thường, người ta chia 2 loại: trĩ ngoại và trĩ nội. 
Trĩ nội là những búi trĩ xuất phát từ những búi tĩnh mạch trĩ nằm trong lòng hậu môn, phía trên đường lược, khi phồng to quá mức thì sẽ sa ra ngoài. Tùy mức độ sa của các búi trĩ nội ra ngoài mà người ta chia làm 4 độ: Độ 1 là các búi trĩ phồng to hơn mức bình thường nhưng vẫn nằm trong lòng ống hậu môn ngay cả khi bệnh nhân rặn mạnh, có thể gây ra chảy máu khi đi cầu; 
Độ 2 là búi trĩ có thể thập thò ở hậu môn khi bệnh nhân rặn mạnh; Độ 3 là các búi trĩ lồi hẳn ra ngoài khi bệnh nhân đi cầu hoặc làm việc nặng, bệnh nhân phải dùng tay đẩy búi trĩ vào; Độ 4 là độ nặng nhất, búi trĩ gần như thường xuyên nằm bên ngoài hậu môn không thể đẩy vào được.
Trĩ ngoại thì xuất phát từ những đám rối tĩnh mạch nằm dưới da xung quanh lỗ hậu môn, nó nằm hoàn toàn bên ngoài ống hậu môn, được bao bọc bằng da hậu môn. Việc điều trị có thể được bảo tồn bằng nội khoa hoặc bằng thủ thuật hay phẫu thuật tùy thuộc mức độ nặng hay nhẹ.
Về phẫu thuật thì tùy từng trường hợp cụ thể mà các bác sĩ sẽ có chỉ định cụ thể. Thông thường, khi mắc trĩ, điều trị không cải thiện thì các bác sĩ sẽ xem xét đến vấn đề phẫu thuật.


Chữa bệnh trĩ cực hiệu nghiệm nhờ dầu dừa

Bệnh trĩ là một bệnh lý của vùng hậu môn trực tràng rất phổ biến ở một lứa tuổi, hơn 50% số người mắc bệnh ở độ tuổi 50 trở lên.
Đối tượng chủ yếu là các đối tượng trí thức văn phòng hoặc người lái xe có xu hướng ngồi lâu, đứng nhiều, người bị các bệnh ở vùng đại tràng, phụ nữ mang thai, người táo bón, nứt kẽ hậu môn, báo phì,…
Chữa bệnh trĩ cực hiệu nghiệm nhờ dầu dừa
Chữa bệnh trĩ cực hiệu nghiệm nhờ dầu dừa.
Trĩ gây nên rất nhiều phiền toái cho khổ chủ và nó còn là tiền để của một số bệnh khác khi không điều trị sớm và gây ra những biến chứng khôn lường ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người bệnh.
Vì vậy, bệnh trĩ phải được điều trị sớm để giảm thiểu những ảnh hưởng của bệnh trĩ đến sức khỏe của người bệnh.
Bệnh nàygây khó chịu, làm ảnh hưởng đến đời sống của người bệnh. Bên cạnh đó, bệnh còn gây ra những biến chứng nguy hiểm như thiếu máu, viêm nhiễm, phù nề hậu môn.
Bệnh nhẹ có thể uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ, bệnh nặng thì phải phẩu thuẫn và điều trị trong thời gian dài.
Dầu dừa biết đến với tác dụng làm đẹp da và đã được sử dụng rộng rãi, ngay từ khi chào đời đã được các bà,mẹ thoa dầu dừa để bảo vệ làn da non của chúng ta. Không những thế dầu dừa còn có tác dụng chữa được rất nhiều bệnh.
Sử dụng dầu dừa điều trị bệnh trĩ bạn đã biết?
Chữa bệnh trĩ bằng dầu dừa là một biện pháp điều trị hiệu quả mang lại cho người bệnh cảm giác thoải mái, dể chịu. Tác dụng của dầu dừa không chỉ chữa được bệnh trĩ mà còn làm dịu da bổ sung nhiều chất chống oxi hóa cho cơ thể.
Bên cạnh việc điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ, bệnh nhân có thể áp dụng cách chữa bệnh trĩ bằng dầu dừa, nếu bệnh nhẹ chúng ta chỉ cần lấy dầu dừa thoa đều lên búi trĩ cũng có thể làm giảm nhẹ cơn đau.
Ngoài ra, bạn có thể uống dầu dừa 2-3 lần mỗi ngày trước khi ăn và dùng dầu dừa chế biến món ăn hàng ngày. Tác dụng của dầu dừa trong điều trị bệnh trĩ khá hiệu quả vừa tiết kiệm chi phí lại không gây đau đớn.


Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Lời khuyên cho bệnh nhân chuẩn bị mổ nội soi đại trực tràng

TS. Khanh cho rằng, phần lớn ung thư đại trực tràng xuất hiện ở những người trên 50 tuổi. Chính vì vậy cần tiến hành soi đại tràng cho tất cả mọi người ở lứa tuổi > 50, kể cả những người không có triệu chứng. Nếu soi đại tràng hoàn toàn bình thường và không có polyp thì sau mười năm mới phải soi lại.
- Những người có nguy cơ cao ung thư đại trực tràng: khi soi đại tràng phát hiện có từ 3-10 polyp loại tuyến ống (tubular adenomas) trở lên hoặc có loạn sản mức độ cao hoặc polyp loại nhung mao hoặc loại ống tuyến nhung mao hoặc polyp có kích thước ³ 1 cm bệnh nhân cần được soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó. Nếu có > 10 polyp tuyến cần soi lại trong vòng trước 3 năm. Đối polyp răng cưa (serrated polyp) ³ 1cm soi lại tại thời điểm 3 năm sau đó.
- Những người ít có nguy cơ ung thư đại trực tràng: khi soi đại tràng phát hiện có 1-2 polyp loại tuyến ống, hoặc polyp kích thước nhỏ <1 cm và không có loạn sản mức độ cao, những bệnh nhân này soi đại tràng lại sau 5-10 năm. Đối polyp răng cưa < 1 cm và không có loạn sản soi lại tại thời điểm 5 năm sau đó. Đối với trường hợp polyp tăng sản (hyperplastic polyp) bệnh nhân cần soi lại tại thời điểm 10 năm sau đó.
- Những người có tiền sử gia đình: bố mẹ, anh em ruột và con bị ung thư đại trực tràng cần soi đại tràng để sàng lọc ở tuổi 40 hoặc trước 10 năm so với tuổi của người thân bị ung thư đại trực tràng.
- Những người bị viêm loét đại tràng chảy máu hoặc bị bệnh Crohn: cần soi đại tràng hàng năm kể từ năm thứ 8 khi phát hiện bị tổn thương toàn bộ đại tràng hoặc từ năm thứ 12 đối với tổn thương toàn bộ đại tràng trái. Để phát hiện những tổn thương loạn sản.
- Những người bị hội chứng polyp có tính chất gia đình (Familial adenomatous polyposis -FAP) cần soi đại tràng hàng năm.
Lời khuyên cho bệnh nhân chuẩn bị mổ nội soi đại trực tràng
- Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ chưa được nội soi đại tràng toàn bộ vì các lý do khác nhau như: phải mổ cấp cứu do có tắc ruột hoặc chưa soi hết đại tràng vì bán tắc ruột…, thì sau khi mổ 3 - 6 tháng phải được soi đại tràng toàn bộ để phát hiện những vị trí ung thư khác tại đại tràng. Nếu hình ảnh nội bình thường, bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật. Nếu khi soi phát hiện thấy có polyp thì việc theo dõi sẽ theo hướng dẫn về polyp phần trên.
- Đối với bệnh nhân ung thư đại trực tràng mà trước khi mổ đã được nội soi đại tràng toàn bộ: bệnh nhân cần nội soi lại ở thời điểm 1 năm, 3 năm và 5 năm sau khi được phẫu thuật.
- Đối với bệnh nhân ung thư trực tràng: bệnh nhân cần được soi đại tràng sigma cứ 3- 6 tháng 1 lần trong 2 năm đầu.
Nếu nội soi đại tràng toàn bộ không có thuốc giảm đau, tiền mê và gây mê thì bệnh nhân rất đau và khó chịu. Phần lớn bệnh nhân đã soi đại tràng mà không có tiền mê và gây mê thì không muốn nội soi đại tràng lại lần 2. Để phòng tránh được ung thư đại tràng thì phương pháp tốt nhất là phải nội soi đại tràng toàn bộ.
Ngày nay, phần lớn bệnh nhân soi đại tràng tại khoa Tiêu hóa, BV Bạch Mai được nội soi tiền mê bằng fentanyl phối hợp cùng midazolam hoặc gây mê bằng propofol. Đây là phương pháp nội soi đại tràng rất an toàn và không có hại cho sức khỏe của bệnh nhân, điều này đã được Hội nội soi Tiêu hóa Hoa Kỳ chấp nhận, đồng thời, người bệnh cảm thấy không khó chịu khi nội soi. Vì vậy, khi cần phải nội soi đại tràng lại theo định kỳ người bệnh dễ dàng chấp nhận.
Lời khuyên cho bệnh nhân chuẩn bị mổ nội soi đại trực tràng
Chuẩn bị trước và sau nội soi đại tràng như thế nào?
Bữa tối trước ngày soi đại tràng bệnh nhân ăn bình thường, nhưng không ăn rau và chất xơ
- Đối với người đại tiện hành ngày bình thường: bệnh nhân uống thuốc rửa ruột trong khoảng 3 giờ.
- Đối với người bị táo bón: cần uống thuốc nhuận tràng làm mềm phân trong 3-4 ngày để giúp bệnh nhân đi ngoài bình thường trước khi soi.
- Đối với bệnh nhân nghi bán tắc ruột: như đau bụng thành cơn, không đại tiện được không được cho dùng thuốc rửa ruột mà phải thụt tháo làm sạch đại tràng trước khi soi.
- Đối với những người trên 50 tuổi nên xét nghiệm công thức máu và đông máu trước khi nội soi, vì nếu phát hiện có polyp sẽ tiến hành cắt luôn trong quá trình nội soi, tránh cho bệnh nhân phải nội soi lần sau.
- Đối với nội soi đại tràng có tiền mê và gây mê, sau khi soi bệnh nhân không tự điều khiển các phương tiện giao thông.
Cũng theo TS. Khanh, cho tới nay không có xét nghiệm nào có khả năng dự báo là một người bị ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm, ngay cả với xét nghiệm CEA (Carcinoembryonic antigen). CEA có thể tăng trong máu ở người ung thư tụy, ung thư dạ dày, ung thư tuyến giáp, ung thư vú và tăng cả trong những bệnh không bị bệnh ung thư như: viêm loét đại tràng chảy máu, xơ gan, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh crohn và suy tuyến giáp. 
Chính vì vậy, CEA cũng được khuyến cáo không nên sử dụng như một xét nghiệm để sàng lọc phát hiện ung thư đại tràng. PET- CT được coi phương tiện hiện đại phát hiện di căn ung thư, nhưng cũng không phải phương tiện được áp dụng để sàng lọc phát hiện ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm.
Như vậy, để phát hiện sớm và chữa khỏi ung thư đại tràng thì cách tốt nhất là nội soi đại tràng toàn bộ, đặc biệt là đối với người có nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng.


Những "thủ phạm" bất ngờ gây táo bón cho trẻ

Táo bón nếu không được điều trị sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như trẻ biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, chướng bụng, đầy hơi, ăn khó tiêu, nôn trớ. Có rất nhiều nguyên nhân khiến trẻ bị táo bón, do đó để hạn chế bệnh lý này ở trẻ, các mẹ cần nắm rõ các tác nhân dưới đây.
Để hạn chế bệnh lý này ở trẻ, các mẹ cần nắm rõ các nguyên nhân gây bệnh này!
Táo bón là tình trạng khá phổ biến ở trẻ từ 1 - 12 tháng tuổi và rất dễ phát hiện nhờ việc theo dõi tần suất đi tiêu của trẻ. Trẻ có thể bị táo bón nếu đi đại tiện dưới 2 lần/ngày đối với trẻ sơ sinh, dưới 3 lần/tuần với trẻ đang bú mẹ, dưới 2 lần/tuần đối với trẻ lớn.
Trong trường hợp thấy trẻ đi ngoài phân rắn, có khi thành viên như phân dê, trẻ phải rặn thì lúc đó mẹ nên nghĩ ngay đến việc trẻ đã bị táo bón. Táo bón nếu không được điều trị sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như trẻ biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, chướng bụng, đầy hơi, ăn khó tiêu, nôn trớ. Có rất nhiều nguyên nhân khiến trẻ bị táo bón, do đó để hạn chế bệnh lý này ở trẻ, các mẹ cần nắm rõ các tác nhân dưới đây.
1. Cố gắng "nhịn" đi vệ sinh
Theo các bác sĩ nhiều bé bị táo bón vì nín nhịn, không chịu đi, chỉ vì một số lý do có khi khá bất ngờ như bé trì hoãn đi tiêu nếu nơi đó khiến bé không cảm thấy thoải mái hoặc có khi vì bé "bận" và bỏ qua nhu cầu sử dụng nhà vệ sinh. Hay chỉ đơn giản vì khi đi tiêu, bé có thể bị đau do rách hậu môn khiến bé quyết định nín luôn để tránh bị đau hơn.
Theo các bác sĩ nhiều bé bị táo bón vì nín nhịn, không chịu đi. Ảnh minh họa
Theo các bác sĩ nhiều bé bị táo bón vì nín nhịn, không chịu đi. Ảnh minh họa
Nếu cha mẹ bỏ quên thì bé sẽ dễ dàng bị táo bón. Nín nhịn đi tiêu khiến phân ở lâu trong cơ thể, lớn và khô cứng, khiến bé phải gắng sức hơn trong những lần sau, có khi gây rách hậu môn, chảy máu. Vì thế bé lại càng sợ đi tiêu và quyết định nín nhịn nhiều hơn khi có nhu cầu. Việc này vô cùng nguy hiểm, bởi nó không chỉ gây táo bón mà còn có thể tạo ra các bệnh lý khác cho trẻ.
2. Bắt ép trẻ đi đại tiện khi con không muốn
Để tạo lập thói quen tự giác đi vệ sinh cho trẻ, ngoài sự kiên nhẫn, cha mẹ còn phải am hiểu các giai đoạn phát triển của bé. Trẻ ở lứa tuổi nào cũng cần học cách biểu đạt các nhu cầu cơ bản. 
Tuy nhiên, nhiều mẹ thiết lập cả cho con một lịch trình giờ giấc đi tiêu cố định, ngay cả khi con không muốn nhưng mẹ vẫn cố ép. Chẳng hạn như, khi mẹ muốn đưa bé đi chơi và không muốn bé đi đại tiện ở ngoài, mẹ nhanh chóng thúc ép con "giải quyết" ngay tại nhà mà không cần biết bé có nhu cầu hay không.
Việc mẹ ép bé đi vệ sinh khi con không có nhu cầu dễ khiến bé nổiloạn. Bé sẽ có cảm giác sợ hãi và tìm cách phản kháng lại. Nếu hành động này của mẹ diến ra thường xuyên, bé sẽ sinh ra thói sợ đi vệ sinh và dễ dẫn đến bị táo bón.
3. Thay đổi chế độ ăn uống
Thay đổi chế độ ăn uống cũng là một trong cácnguyên nhân khiến trẻ bị táo bón . Các mẹ cần biết:
- Có một số loại quả nếu mẹ cho bé ăn quá nhiều thì lại rất dễ gây táo bón ở trẻ như: chuối chín, táo. Ngoài ra, ngũ cốc, bánh mỳ, mỳ, khoai tây cũng góp phần gây táo bón nếu ăn quá nhiều.
- Nếu mẹ cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và khi bước sang giai đoạn ăn dặm bé cũng có thể bị táo bón. Bởi vì dạ dày của bé đã quen xử lý sữa mẹ dễ tiêu và lỏng, đếnkhi ăn dặm bé phải tập tiêu hóa những thức ăn phức tạp hơn nên cũng dễ bị táo bón.
- Bé ăn thiếu chất xơ hay tiêu thụ quá nhiều sản phẩm từ sữa (phômai, sữa công thức, kem) cũng là một trong những nguyên nhân gây táo bón. Những loại thực phẩm này không chỉ khiến bé yêu mắc chứng táo bón mà còn tăng nguy cơ các bệnh về tim mạch.
- Khi bé đổi từ bú mẹ sang bú bình hoặc đổi sữa công thức cũng rất dễ bị táo bón nếu mẹ chọn sữa không phù hợp. Với những trẻ đang trong thời kỳ uống sữa, do không uống đủ nước nên bé rất dễ bị táo bón.
- Cho trẻ ăn quá nhiều các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt lợn). Bởiăn nhiều thịt đỏsẽ dẫn tới tình trạng bé bị táo bón do thiếu chất xơ hoặc có nguy cơ bị béo phì do thừa chất dinh dưỡng.
4. Thay đổi thói quen
Bất kỳ sự thay đổi nào trong thói quen hằng ngày cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị táo bón. Chẳng hạn như lối sống cũng như việc sinh hoạt tại một nơi hoàn toàn khác lạ với bé; thời tiết thay đổidu lịch; hay tâm trạng không tốt... cũng ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ thức ăn và chức năng ruột của bé. Điều này dễ nhận thấy khi có nhiều trẻ bị táo bón khi bắt đầu đi học, tiếp xúc với một môi trường mới.
Bên cạnh đó. ơ các trẻ có thay đổi bất thường về sinh lý như: sốt gây mệt mỏi, ăn kém, nằm nhiều, mất nước..đều có thể làm giảm số lượng phân, hoặc gây nên sự tăng cô đặc của phân dẫn đến táo bón.
5. Đang sử dụng thuốc
Việc điều trị bằng thuốc men thường không gây ra chứng táo bón ở trẻ nhỏ (dù có thể gây táo bón cho người lớn) nhưng đôi khi một số loại siro ho có thể gây ra hiện tượng này. Ngoài ra, mẹ cần biết các loại thuốc như thuốc chống trẩm cảm, thuốc chống co giật, thuốc giảm đau gây nghiện (codein) cũng có thể gây táo bón.
6. Dị ứng sữa bò
Dị ứng với sữa bò thường được chẩn đoán trong hầu hết các trường hợp rối loạn đường ruột ở trẻ nhỏ. Với một số trẻ, nó có thể gây ra hiện tượng táo bón. Nếu ai đó trong gia đình từng hen suyễn hoặc chàm bội nhiễm thì cũng có thể nghĩ tới nguyên nhân dị ứng sữa.
7. Trong nhà có người mắc
Trẻ có bố mẹ bị táo bón cũng rất dễ bị lây nhiễm. Đây có thể do yếu tố di truyền hoặc do việc cùng sống trong một môi trường.


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Bệnh trĩ: Biến chứng và thuốc trị

Trĩ là một loại bệnh của mạch máu tĩnh mạch. Bệnh rất phổ biến ở cả nam và nữ. Khi các mạch máu tĩnh mạch bị ứ máu thành tĩnh mạch bị giãn ra, sung huyết.

Những tĩnh mạch bị giãn như vậy ở trực tràng và hậu môn tạo thành búi trĩ và gây nên bệnh trĩ.
Đừng xem thường biến chứng của bệnh trĩ
Với những triệu chứng như đi ngoài ra máu, đau rát, luôn có cảm giác vướng, khó chịu, sờ thấy búi trĩ ở hậu môn..., bệnh trĩ làm cho người bệnh đau đớn, khó chịu, tinh thần không thoải mái. Do là bệnh ở vùng kín nên bệnh nhân thường rất ngại đi khám và điều trị, nhất là phụ nữ. Có nhiều người âm thầm chịu đựng "sống chung" với bệnh nhiều năm. 
Chỉ đến khi bệnh đã nặng, chảy máu nhiều hoặc búi trĩ đã bị sa nằm bên ngoài hậu môn không thể co lên, họ mới bắt buộc phải điều trị. Hơn thế, bệnh còn có thể gây những biến chứng nguy hiểm như: tắc mạch, nghẹt, nhiễm khuẩn...
Tắc mạch: trĩ ngoại có thể là do vỡ các tĩnh mạch, tạo nên một bọc máu, hoặc là do hiện tượng đông máu ở trong lòng mạch máu. Việc tăng áp lực khi đi ngoài, khuân vác nặng, hoạt động thể thao, hậu sản... gây sung huyết vùng hậu môn là những yếu tố thuận lợi của tắc mạch trĩ. Khi bị tắc mạch, bệnh nhân rất đau rát, cũng có khi cục máu đông gây hoại tử phía da gây rỉ máu. Tắc mạch trĩ nội ít hơn nhiều so với tắc mạch trĩ ngoại. Bệnh nhân đau ở trong sâu, có cảm giác gợn cộm như có một vật lạ nằm trong lòng ống hậu môn.
Bệnh trĩ: Biến chứng và thuốc trị
Hình ảnh trĩ nội và trĩ ngoại.
Nghẹt: là khi búi trĩ hay vòng trĩ sa ra ngoài, mạch có thể bị tắc gây phù nề và do đó không thể tự thụt lại vào trong lòng trực tràng được. Khi nhìn, thấy mặt ngoài của trĩ sa nghẹt là da màu xám, ở mặt trong là niêm mạc màu nâu đỏ, sưng nề, rải rác có những nốt xám đen là do hiện tượng hoại tử bắt đầu.
Nhiễm khuẩn do trĩ: thường là viêm khe, viêm nhú. Biểu hiện của viêm khe, viêm nhú là cảm giác ngứa ngáy hay nóng rát. Soi hậu môn thấy các nhú phù nề sưng to, màu trắng, các khe nằm giữa các búi trĩ bị loét nông, màu đỏ. Cần đề phòng tình trạng bội nhiễm. Nếu trĩ thòi ra ngoài lâu, chảy máu liên tục thì rất dễ bị bội nhiễm vi khuẩn bởi vì hậu môn là đường ra của phân mà trong phân có vô số vi khuẩn gây bệnh.
Để bệnh không diễn tiến đến giai đoạn nặng hay xảy ra biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân trĩ nên chữa trị càng sớm càng tốt.
Thuốc điều trị
Thuốc điều trị bệnh trĩ chủ yếu gồm hai loại: Loại để uống (viên nén, viên nang) và loại thuốc dùng để bôi hoặc đặt trong hậu môn như thuốc mỡ, thuốc viên đạn. Dùng thuốc có thể giúp giảm các triệu chứng của bệnh trĩ.
Thuốc uống (có dạng viên nang hoặc viên nén): thường có tác dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ, cầm máu đối với trĩ chảy máu, co búi trĩ. Đây là thuốc chứa các hoạt chất rutin (còn gọi là vitamin P). Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài tác dụng chữa trĩ còn dùng để trị chứng suy, giãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh.
Trong điều trị trĩ ngoại, bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng bệnh cho liều điều trị tấn công và liều điều trị củng cố. Ngoài thuốc tác động chính trên tĩnh mạch trĩ, bác sĩ có thể chỉ định thêm các thuốc khác như: kháng sinh ( nhóm penicillin, cephalosporin...), thuốc chống viêm (ibuprofen, naproxen...), thuốc giảm đau (paracetamol), thuốc trị táo bón... Người bệnh cần sử dụng thuốc theo đúng chỉ định, đặc biệt phải kiên trì dùng thuốc kéo dài đủ thời gian.
Thuốc đặt hoặc thuốc bôi: Sử dụng thuốc mỡ bôi lên vùng bị tổn thương để có tác dụng tại chỗ. Các loại thuốc dạng bôi này có chứa hoạt chất giảm đau, ngứa, rát, giúp sát khuẩn, chống nhiễm khuẩn song chỉ có tác dụng giảm bớt các triệu chứng chứ không thể điều trị triệt để. Thuốc mỡ có thể ngăn ngừa tổn thương thêm và làm giảm ngứa bằng cách hình thành một rào cản trên bệnh trĩ. Bôi thuốc mỡ có chứa hydrocortisone 1%, một loại thuốc steroid có thể làm giảm viêm và ngứa. 
Nhưng các thuốc này không nên sử dụng quá 2 tuần vì chúng có thể làm mỏng da. Người bệnh cũng có thể dùng thuốc đạn đặt vào trong hậu môn (trong trường hợp bị trĩ nội). Thuốc cho tác dụng tại chỗ (cả bôi và đặt) thường chứa nhiều hoạt chất như: làm giảm đau, chống viêm, kháng sinh, bảo vệ và làm bền chắc tĩnh mạch (bismuth subgallate, resorcinol, tannic acid, zinc oxide), sát trùng (boric acid, neomycin, phenylmercuric nitrate và oxyquinlone), ngoài ra còn chứa các vitamin, chất bổ dưỡng giúp tổn thương mau lành.
Lời khuyên dành cho người bệnh
Trĩ là bệnh rất khó chữa khỏi hoàn toàn bằng thuốc, trừ khi có ngoại khoa can thiệp. Để hạn chế biến chứng, người bệnh cần vệ sinh sạch sẽ vùng kín bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 - 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút. 
Dinh dưỡng cũng là yếu tố quan trọng giúp điều trị bệnh. Nên ăn thức ăn mềm, lỏng, nhiều rau xanh, uống nhiều nước trong ngày để nhuận tràng, không ăn nhiều gia vị cay nóng, hạn chế các chất kích thích (rượu, bia,...). Người bệnh trĩ cần tránh tình trạng táo bón làm gia tăng áp lực lên đại trực tràng, sẽ khiến bệnh trĩ ngày càng nặng hơn.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Thực phẩm và thói quen cần tránh với người bệnh trĩ

Bệnh trĩ khá phổ biến, tất cả mọi người từ trẻ nhỏ, nam nữ hay người lớn đều có nguy cơ mắc phải. Bệnh trĩ gồm có trĩ nội, trĩ ngoại hay trĩ hỗn hợp (bị cả trĩ nội và ngoại).
Bị bệnh trĩ không nên thực phẩm nhiều gia vị và ớt cay
Các gia vị có thể gây kích ứng và làm cho đau và ngứa nặng hơn.
Bị bệnh trĩ không nên ăn thực phẩm gây táo bón
Khi bị bệnh trĩ, bạn cũng nên tránh ăn hoặc uống bất cứ thứ gì có thể làm bạn táo bón. Các loại thực phẩm và đồ uống gây ra táo bón phổ biến là cà phê, thịt đỏ, rượu, và một số sản phẩm động vật khác. Vì mỗi người phản ứng khác nhau với các thực phẩm khác nhau nên bạn cần phải theo dõi chế độ ăn uống của bạn và xem những gì tốt, và không tốt cho cơ thể bạn.
Những thực phẩm và thói quen cần tránh với người bệnh trĩ.
Thực phẩm và thói quen cần tránh với người bệnh trĩ là điều được nhiều người quan tâm.
Bị bệnh trĩ không nên ăn thịt gà lôi
Theo kinh nghiệm dân gian thì loại thịt này có rất nhiều chất béo, vì vậy không nên ăn nếu bị bệnh trĩ.
Bị bệnh trĩ đừng rặn, và đừng khiêng nặng
Hành động rặn sẽ làm trĩ ló ra ngoài hậu môn nhiều hơn. Tương tự, bạn cũng sẽ phải gồng lên khi khiêng một vật nặng như tủ lạnh, bàn ghế... Trĩ thường xuất hiện do những tĩnh mạch bị trương căng lên. Hành động gồng hay rặn làm cao áp huyết trong các mạch máu và làm trương căng chỗ trĩ nhiều hơn nữa.
Bị bệnh trĩ không nên chạy nhanh
Những môn thể thao phải vận động nhiều và chạy nhanh như marathon, đá bóng có tác dụng rèn cho cơ chân co nhanh hơn, mạnh hơn, cơ thể dẻo dai hơn. Về mặt lý thuyết, nó có lợi cho bệnh trĩ và đánh tan sự ứ trệ máu ở búi tĩnh mạnh làm giãn tĩnh mạch không bị giãn thêm.
Nhưng trên thực tế, lợi ích không bù lại cái hại mà nó gây ra. Bởi, để chạy được nhanh chúng ta cần căng cứng cơ bụng, lấy hơi và giữ một áp lực cố định trong bụng. Áp lực này có thể tăng lên gấp 2 -3 lần so với thông thường. 
Áp lực này thực sự là một thử thách đối với bệnh nhân trĩ. Hơn thế nữa, tốc độ trong chạy nhanh làm cọ xát hậu môn gây đau rát. Vì vậy, thay vì tập chạy nhanh, đi bộ sẽ phù hợp hơn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317