Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Viêm đại tràng co thắt ở người cao tuổi


Viêm đại tràng co thắt thường đau vùng bụng ở dưới rốn, đau quặn, ợ hơi... dễ nhầm với đau dạ dày.




Viêm đại tràng (VĐT) có thắt (hay còn gọi là VĐT kích thích) và VĐT mạn tính là một bệnh thường gặp ở người cao tuổi (NCT). Nhiều nghiên cứu cho thấy, có tới 20% người trưởng thành mắc hội chứng này, trong đó NCT chiếm tỉ lệ khá cao.

Triệu chứng biểu hiện
Triệu chứng điển hình nhất của VĐT co thắt ở NCT là đau bụng. Triệu chứng này rất đa dạng, có thể đau sau ăn, có thể đau khi ăn no, đặc biệt là đau sau khi ăn một số thức ăn lạ, chua, cay, lạnh, rau sống, tiết canh… Đau là nỗi ám ảnh của hầu hết NCT bị VĐT co thắt, do đó không dám ăn những thức ăn có dạng như vậy.

VĐT co thắt thường đau vùng bụng ở dưới rốn, đau quặn, ợ hơi, đầy bụng, chướng hơi, khó tiêu (dễ nhầm với đau dạ dày). Hầu hết người bệnh sẽ hết cơn đau bụng sau khi đi đại tiện. Tuy vậy, cũng có nhiều NCT VĐT co thắt mạn tính thì vừa đi ngoài xong đã xuất hiện cơn đau quặn bụng khác muốn đi ngoài tiếp. VĐT co thắt kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm cho nên người bệnh thường gầy yếu, xanh xao, thậm chí bị suy kiệt do thiếu chất dinh dưỡng, do thiếu nước và chất điện giải, thêm vào đó là nỗi buồn phiền lo lắng về bệnh tật.

Một số yếu tố kích thích cơn đau là thần kinh căng thẳng, stress, uống rượu, bia, ăn chua cay... Người bị bệnh VĐT co thắt bị ảnh hưởng khá nhiều đến chất lượng cuộc sống (không thoải mái, kiêng khem quá mức, hay cáu gắt hoặc hay nổi nóng, lúc nào cũng lo đến bệnh tật của mình).

Nguyên nhân của VĐT co thắt ở NCT
Nguyên nhân gây nên bệnh VĐT co thắt rất đa dạng hoặc là do viêm đường ruột bởi ăn uống phải thức ăn không hợp vệ sinh.

Ví dụ như trong thức ăn có vi khuẩn thương hàn gây bệnh, vi khuẩn lỵ hoặc lỵ amíp; do rối loạn nhu động ruột; do dùng quá nhiều kháng sinh đường ruột gây loạn khuẩn (phân thường xuyên sống, lúc lỏng, lúc sệt, lúc rắn…); hoặc do rối loạn tâm thần, sang chấn tâm thần… Có nhiều người bệnh khi được hỏi về các yếu tố có liên quan đến bệnh VĐT co thắt thì người bệnh cũng không thể nhớ được mình mắc bệnh vì nguyên nhân gì là chính.

Chẩn đoán VĐT co thắt ở NCT
Việc chẩn đoán VĐT co thắt khá phức tạp, do đánh giá của từng thầy thuốc mà có các chỉ định xét nghiệm khác nhau và còn tùy thuộc vào trang thiết bị của từng phòng xét nghiệm. Nếu nghi loạn khuẩn có thể cho xét nghiệm vi khuẩn chí.

Xét nghiệm vi khuẩn chỉ là một công việc khá phức tạp không phải phòng xét nghiệm vi sinh y học nào cũng thực hiện được, bởi vì nó đòi hỏi các trang thiết bị cần thiết và đầy đủ cho việc chẩn đoán vi sinh. Xét nghiệm vi khuẩn chí đường ruột người ta sẽ cho biết tỷ lệ vi khuẩn Gram dương và tỷ lệ vi khuẩn Gram âm có trong đường ruột (trong phân lấy xét nghiệm) khi tỷ lệ này thay đổi có nghĩa là bị loạn khuẩn.

Nếu nghi do bị giun, người ta sẽ soi phân qua kính hiển vi quang học để tìm các loại trứng giun, sán; nếu VĐT với lý do khác có thể cho chụp khung đại tràng có thuốc cản quang và nếu có điều kiện thì có thể tiến hành nội oi đại tràng để đánh giá tình trạng của niêm mạc đại tràng xem có u, polyp, viêm - loét hay không… Khi nội soi đại tràng, nếu có u hoặc loét, bác sĩ nội soi sẽ tiến hành sinh thiết xác định lành tính hay ác tính.

Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh
Muốn điều trị và phòng bệnh tốt cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là khám ở chuyên khoa tiêu hóa để xác định nguyên nhân và điều trị dứt điểm ngay từ đầu không để bệnh trở thành mạn tính. Cần vệ sinh an toàn thực phẩm tốt từ khâu sản xuất, bảo quản đến khâu chế biến phải đảm bảo vệ sinh.

Những loại thức ăn nào dễ gây VĐT co thắt thì cần tránh dùng hoặc dùng rất hạn chế. Không nên lạm dụng gia vị, rượu, bia, chua, cay trong các bữa ăn cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Không ăn các loại thực phẩm còn tươi, sống (rau sống, nem chua, nem chạo, tiết canh, lòng lợn, gỏi cá…). Cần vệ sinh môi trường sống luôn sạch, đẹp. Tinh thần luôn thoải mái, không nên quá lo lắng về bệnh của mình. Nên tập thể dục đều đặn với các hình thức phù hợp với bản thân mình và dễ thực hiện nhất.


AloBacsi.vn (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Thực phẩm trị bệnh loét dạ dày

Ăn nhiều thực phẩm thô thay cho thực phẩm tinh lọc là giải pháp chính trong chế độ dinh dưỡng đối với người bị rối loạn tiêu hóa, kể cả loét dạ dày.


Thực phẩm thô hay các loại hạt toàn phần bao gồm gạo lức, nếp lức, bắp, các loại đậu và một số hạt có chất béo như mè, hạt điều.
Viêm loét dạ dày gồm các cơn đau do viêm hoặc loét dạ dày hoặc tá tràng.  Bệnh thường biểu hiện qua các triệu chứng đầy bụng, ăn khó tiêu, đau vùng thượng vị, có thể đau lan ra hông sườn, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn. Ở một số người, có thể do ăn uống, sinh hoạt không hợp lý, tiêu hóa kém dễ sinh ra hàn thấp hoặc thấp nhiệt ở dạ dày.
Cảm xúc tiêu cực hại dạ dày
Trong thời đại công nghiệp, cuộc sống nhiều áp lực, con người thường phải gánh chịu nhiều căng thẳng, lo âu. Những cảm xúc tiêu cực kéo dài tác động xấu lên hệ thần kinh thực vật làm rối loạn hoạt động tiết dịch và vận động ở dạ dày.
Điều này cũng làm rối loạn tiêu hóa, ăn kém, ăn không tiêu, thức ăn ứ đọng cũng dễ dẫn đến viêm loét dạ dày. Ngày nay, những cảm xúc tiêu cực, thường gọi là stress, là một yếu tố quan trọng gây bệnh.
Theo y học hiện đại, bên cạnh một số trường hợp loét gây ra do dùng lâu dài những loại thuốc kháng viêm non-steroid như aspirin, ibuprofen, tác nhân chính gây ra viêm loét dạ dày hoặc tá tràng là loại vi khuẩn HP.
Mặt khác, y học hiện đại cũng đề cập hội chứng rối loạn tiêu hóa liên quan đến những yếu tố tâm lý. Người bệnh cũng có một số triệu chứng tương tự như viêm loét dạ dày như đầy bụng, ăn kém, đau vùng thượng vị...
Tuy nhiên, qua xét nghiệm, người ta không thấy loét hoặc không tìm được HP trong ống tiêu hóa. Nếu không được giải quyết, rối loạn khí hóa ban đầu sẽ dẫn đến tổn thương thực thể.
Ăn thực phẩm thô

Ăn nhiều thực phẩm thô thay cho thực phẩm tinh lọc là giải pháp chính trong chế độ dinh dưỡng đối với người bị rối loạn tiêu hóa, kể cả loét dạ dày. Thực phẩm thô hay các loại hạt toàn phần bao gồm gạo lức, nếp lức, bắp, các loại đậu và một số hạt có chất béo như mè, hạt điều, hạt bí còn nguyên lớp màng ngoài của hạt.
Hạt thô có nhiều chất xơ, sinh tố và chất khoáng, nhất là những sinh tố nhóm B cần thiết cho nhu cầu chuyển hóa các chất, cho việc tiêu hóa thức ăn. Hạt thô có nhiều chất chống ôxy hóa quan trọng để bảo vệ lớp màng tế bào ở thành trong của dạ dày.
Ăn ngũ cốc thô còn làm giảm tỉ lệ CRP (C-reactive protein), yếu tố biểu thị tình trạng viêm trong các chứng viêm nhiễm mãn tính.
Ăn thực phẩm thô không chỉ giúp kích thích tiêu hóa, kháng viêm, tăng cường sức đề kháng mà còn có thể chống stress, dễ tạo tâm lý cân bằng do hàm lượng những sinh tố nhóm B, sinh tố C, E, chất khoáng magnesium, selenium có nhiều trong ngũ cốc thô hoặc rau quả.
Ngoài ngũ cốc thô, người bệnh có thể ăn thêm cá và một số hạt có chất béo như mè, hạt điều, hạt hạnh nhân để được cung cấp thêm chất đạm và nhiều acid béo omega 3 hữu ích cho hoạt động của não và sự ổn định tâm lý.
Ngoài ra, thường dùng chuối xanh dưới hình thức rau trộn trong các bữa ăn cũng là một liệu pháp bổ sung tốt cho trị viêm loét dạ dày. Chuối xanh có những hoạt chất có tác dụng kích thích sự phát triển của những tế bào màng nhầy ở thành trong dạ dày.
Lớp tế bào này tăng sinh nhanh chóng để chống loét hoặc hàn gắn vết loét đang tồn tại.  Đông y có cách dùng chuối xanh trị bệnh dạ dày như sau: Chuối xanh phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp, tán bột, bỏ vào lọ đậy kín. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần khoảng 8 g.

Không nên uống nước súp trong bữa ăn

Để tránh làm loãng các loại dịch tiêu hóa cũng như các vi chất dinh dưỡng có sẵn trong hạt thô, không nên uống nhiều nước súp, nước canh trong bữa ăn. Bù lại, cách xa bữa ăn có thể uống thêm nước trái cây hoặc ăn thêm canh súp.
Uống nước ép hoa quả có tác dụng điều hòa sự co bóp ở dạ dày và kích thích sự tái tạo các tế bào màng nhầy để chữa vết loét. Người bị loét dạ dày không nên ăn quá no, tránh ăn nhiều thịt hoặc những thức ăn chiên, xào có nhiều dầu mỡ khó tiêu hóa.
Ăn thức ăn nhanh hoặc thực phẩm công nghiệp có lượng chất béo bão hòa cao có thể làm gia tăng ngay các triệu chứng bệnh lý liên quan đến stress như khó tiêu, đầy bụng, căng thẳng, tim đập nhanh.
 
 (Theo Người lao động)

Những thực phẩm “cứu nguy” cho gan

Gan giữ vai trò quan trọng trong cơ thể, chức năng gan suy yếu bạn sẽ dễ gặp phải những rắc rối như trướng bụng, đầy hơi gây nên những rắc rối với hệ tiêu hóa.

Nhanh chóng bổ sung những thực phẩm dưới đây vào trong chế độ ăn uống để “cứu nguy” cho lá gan.

Tỏi và hành
 
Là hai loại gia vị làm dậy mùi thức ăn, rất quen thuộc trong gian bếp của mỗi gia đình. Không chỉ có tác dụng trong quá trình nấu nướng và xét dưới góc độ y học thì đây còn là những “vị thuốc” có khả năng thải độc và thanh lọc rất tốt.
Khi được thu nạp vào cơ thể chất  allicin và selenium sẽ có chức năng “dọn dẹp” những chất hóa học, độc tố, chất ô nhiễm đang định cư trong cơ thể và nhất là đang “ẩn nấp” trong lá gan. Chính vì thế, học cách “kết thân” với hành và tỏi để tận thu những lợi ích tuyệt vời của nó với lá gan.
Bưởi
Hàm lượng vitamin C dồi dào trong bưởi và các chất chống oxy hóa trong nó sẽ hỗ trợ lá gan trong quá trình hoạt động của nó.
Mỗi ngày ăn bưởi đều đặn hoặc uống một ly nước ép bưởi sẽ kích thích lá gan tiết ra loại enzyme có tác dụng đào thải chất độc carcinogen và độc tố trong gan ra bên ngoài.
Tinh dầu oliu
 
Tinh dầu oliu thuộc nhóm tinh dầu có lợi cho sức khỏe, là “người bạn” của trái tim, không gây béo phì và thích hợp với người có chế độ ăn kiêng, giảm cân hoặc bệnh nhận mắc tiểu đường, gút.
Trong tinh dầu oliu có chứa chất béo omega 3 axit chính là loại chất béo đảm đương những vai trò to lớn với sức khỏe. Khi được thu nạp vào cơ thể tinh dầu oliu sẽ đào thải độc tố và hóa chất gây hại ở gan, hạn chế nguy cơ “thẩm thấu” của chúng vào trong máu.
Vậy nên trong chế độ ăn uống hàng ngày bạn nên thay đổi chất béo có hại từ mỡ động vật bằng chất béo có lợi có trong tinh dầu oliu.
Chanh
Hương vị chua thanh mát của chanh sẽ nhanh chóng giải nhiệt những cơn khát trong mùa hè nóng bức. Một lượng lớn vitamin C trong chanh cùng lượng axit dồi dào trong nó sẽ giúp thanh lọc các bộ máy trong cơ thể và tất nhiên không loại trừ lá gan.
Nước chanh được sử dụng với mục đích giải khát, bù nước, thải độc tố và giã rượu, hãy bắt đầu một ngày mới bằng một ly nước chanh ấm để kích thích tinh thần làm việc và tăng khả năng sáng tạo.
Trà xanh
Là thức uống dân dã và quen thuộc với tất cả mọi người, thực tế uống trà xanh là thói quen có lợi cho sức khỏe. Bạn sẽ “tận thu” được hàng tá những công dụng từ loại thức uống bình dân này.
Điển hình là chất EGCG và các chất chống oxy hóa trong trà xanh sẽ giúp hỗ trợ chức năng của lá gan, giúp gan đảm nhận tốt vai trò của nó.
Ngoài ra uống trà xanh mỗi ngày còn giúp bạn phòng ngừa được chứng bệnh ung thư, viêm nhiễm và đạt được hiệu quả thanh lọc cơ thể.
Sữa chua 
Những vi khuẩn sống lên men trong sữa chua cùng những vi chất vốn có của nó sẽ “tống khứ” những độc tố ở trong gan, gây nên tình trạng suy giảm chức năng gan. Đồng thời sữa chua cũng tham gia tích cực vào qúa trình tiêu hóa, là “vũ khí” để giúp bạn tránh được những rắc rối như đầy bụng, khó tiêu…
Mỗi ngày ăn 1 – 2 hũ sữa chua có thể trộn thêm hoa quả tươi sẽ “cộng điểm” cho lá gan của bạn và là loại mỹ phẩm tuyệt vời cho làn da.

Cây chó đẻ răng cưa hay còn gọi là diệp hạ châu
 
Đừng vội từ chối thức uống này đơn giản chỉ vì nó không có vị ngọt ngào như bạn tưởng. Thực chất theo đông y thì đây là một loại thảo dược tuyệt vời dành cho gan.  Đặc biệt hỗ trợ thải độc gan, viêm gan, xơ gan hiệu quả. Bạn có thể dùng lá và thân cây này để pha trà hãm lấy nước uống thay nước bình thường, tuy nhiên không nên uống khi đói.
Song song với các giải pháp trên, bạn nên uống nhiều nước (1,5-2 lít/ ngày) để hỗ trợ, thanh lọc gan đồng thời giảm nguy cơ sỏi thận.
Nghệ
Loại gia vị màu vàng này có chứa chất hóa học curcumin - thành phần hoạt động có hiệu quả nhất trong nghệ, không dễ kiếm tìm trong nhiều loại thực phẩm. Minh chứng chỉ ra rằng với liều lượng khoảng 50 mg chất này vào cơ thể mỗi ngày, chúng sẽ hỗ trợ khả năng giải độc cho lá gan của bạn.
 (Theo VTC News)

Bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng có chiều hướng tăng

Nếu môi trường không sạch sẽ, nguy cơ mắc nhiễm bệnh rất cao. Tại Việt Nam, có hơn 70% tỷ lệ người lớn và trên 39% trẻ nhỏ nhiễm HP cao.

Ngày 18/5, PGS.TS Nguyễn Thị Lâm - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Việt Nam, cho biết tình hình bệnh nhân mắc bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng đang có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 26% và thường đứng đầu trong các bệnh về đường tiêu hóa.
Đây cũng là căn bệnh khá phổ biến ở các nước đang phát triển, ước tính tỷ lệ bệnh gia tăng mỗi năm khoảng 0,2%.
Phân tích các yếu tố bệnh lý cho thấy, nguyên nhân mắc bệnh thường gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng, người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, những người làm việc trí óc, người bị đái tháo đường, hạ đường huyết, xơ gan…
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh đến yếu tố chính thường mắc bệnh là do nhiễm HP (Helicobacter pylori). Các enzym do HP giải phóng ra gây tổn thương đến niêm mạc dạ dày.
Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Việt Nam cho rằng nếu môi trường không sạch sẽ, nguy cơ mắc nhiễm bệnh rất cao. Tại Việt Nam, có hơn 70% tỷ lệ người lớn và trên 39% trẻ nhỏ nhiễm HP cao.
Các chuyên gia khuyến cáo, để không mắc bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng, cần có chế độ ăn uống hợp lý (không nên ăn quá nhiều chất kích thích như quá chua hoặc quá cay; bữa ăn cuối cùng trước lúc đi ngủ phải cách ít nhất 4 giờ; không nên ăn quá nhiều canh dùng với bữa cơm…).
Thay vào đó, cần bổ sung các thực phẩm như sữa, trứng, phomát; thực phẩm giàu đạm chế biến qua luộc, hấp, om thì dễ hấp thu; thực phẩm ít mùi vị như tinh bột, cơm nếp nát, bánh mỳ; một ít dầu ăn sống có tác dụng bài tiết dịch vị… để phòng tránh bệnh.

 (Theo Kinh tế & Đô thị)

Sau khi ăn hay bị ợ hơi, dấu hiệu của bệnh gì?

Sau khi ăn, một số người thường bị ợ và cảm thấy “thỏa mãn” vì nhẹ bụng hơn. Tuy nhiên, chứng ợ hơi lại tiềm ẩn một căn bệnh nguy hiểm.

Thực quản là một ống thẳng được tạo thành từ nhiều lớp mô và cơ, có thể giãn nở, tạo những sóng nhu động đưa thức ăn từ miệng xuống dạ dày.
Ở đáy thực quản có một cơ vòng gọi là cơ vòng thực quản dưới, hoạt động như một cái van: khi nuốt thức ăn, cơ vòng này sẽ mở ra để thức ăn đi xuống dạ dày, sau đó nó sẽ đóng lại để ngăn không cho các chất chứa trong dạ dày trào ngược lên.
Khi cơ vòng này hoạt động không tốt thì acid và thức ăn từ dạ dày sẽ trào ngược lên thực quản.
Chứng ợ nóng là tình trạng acid trong dạ dày bị trào ngược lên thực quản và vì thực quản không có lớp màng bảo vệ như dạ dày nên bị acid làm tổn thương, gây ra cảm giác đau rát.
Đây cũng là dấu hiệu của bệnh trào ngược dạ dày thực quản hay GERD (gastro esophageal reflux disease). Nếu triệu chứng này chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra và chỉ kéo dài trong thời gian ngắn thì không phải là vấn đề nghiêm trọng.
Ngoài ra, một số trường hợp sau sẽ dẫn đến tình trạng cơ vòng hoạt động không tốt khiến cho acid trong dạ dày bị trào ngược lên thực quản cũng gây ra ợ nóng, như đang mang thai, thoát vị khe thực quản, bị dư cân, ăn quá nhiều hoặc nằm ngay sau khi ăn, và mặc quần áo chật gây chèn ép lên dạ dày.
Bên cạnh đó, một số thói quen ăn uống cũng gây nên tình trạng ợ nóng như: thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ, nhiều cà chua, hay thức ăn có vị cay, vị chua.
Một số thực phẩm khác nữa là cà phê, rượu, sôcôla, đường, bạc hà và kể cả trường hợp sau một bữa ăn thịnh soạn hay ăn trước giờ đi ngủ.
Triệu chứng này cũng có khi là do uống một loại thuốc nào đó như Aspirin hay khi bạn hút thuốc.
Đối với các thai phụ, chứng ợ nóng thường gặp trong các tháng cuối thai kỳ do trọng lượng của em bé chèn ép vào dạ dày làm cơ vòng thực quản mở ra khiến acid trào ngược lên thực quản.
Tuy nhiên, khi có những dấu hiệu nuốt khó, nuốt đau, sụt cân không giải thích được, đau ngực, nuốt nghẹn hay chảy máu tiêu hóa (ói ra máu, đi cầu phân đen) kèm theo chứng ợ nóng là những triệu chứng nguy hiểm.
Nếu không chữa trị dứt điểm thì chứng ợ nóng hoàn toàn có khả năng trở thành chứng ợ nóng mãn tính hay còn gọi là chứng trào ngược thực quản dạ dày (GERD).
Từ chứng GERD có thể dẫn đến những tình trạng nguy hiểm khác nặng hơn. Như việc ợ nóng liên tục sẽ gây viêm thực quản với nhiều mức độ khác nhau, loét thực quản, hẹp thực quản (do tổn thương viêm kéo dài hình thành sẹo co kéo gây chit hẹp lòng thực quản).
Một số ít có thể bị thực quản Barrett’s (một dạng biến đổi tế bào ở thực quản thành tế bào bình thường khác nhưng chỉ có ở ruột) có thể gây ung thư thực quản về sau trong một số trường hợp.
Acid do trào ngược kéo dài có thể kích thích họng (gây viêm họng, viêm thanh quản làm khàn tiếng kéo dài), bị hít vào phổi gây viêm phổi hít. Một số trường hợp có thể có triệu chứng của bệnh suyễn.
Và nếu tình trạng này kéo dài quá lâu, thậm chí, có thể gây tổn thương phổi vĩnh viễn như xơ hóa phổi hoặc dãn phế quản nếu không được điều trị.
Để giảm chứng ợ nóng, các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra để xem liệu bệnh nhân có phải loét dạ dày hay các bệnh khác gây ra triệu chứng ợ nóng hay không bằng phương pháp chụp X-quang có cản quang để khảo sát thực quản, dạ dày, ruột non; nội soi thực quản dạ dày để chẩn đoán bệnh, đánh giá mức độ nhằm đưa ra xử trí thích hợp. Có thể hạn chế chứng ợ nóng bằng những cách sau:
- Chia nhỏ các cữ ăn chính thành nhiều cữ nhỏ và ăn chậm
- Tránh mặc quần áo quá chật
- Giảm lượng cân nặng thừa
- Nâng cao vai và đầu so với dạ dày khi nằm ngủ
- Tránh các chất tạo ra quá nhiều acid gây tình trạng nóng rát dạ dày như thức ăn cay, nhiều dầu mỡ, cà phê, rượu, cà chua, sôcôla, ...
- Ngừng hút thuốc
- Nhai kẹo cao su hoặc ngậm thuốc dạng kẹo (giúp kích thích tiết nước bọt nhiều hơn, góp phần làm giảm acid ở thực quản trào lên từ dạ dày).
Nếu các biện pháp đơn giản trên không làm giảm bớt tình trạng nóng rát thực quản, bác sĩ sẽ kê toa thuốc cho bạn để làm giảm lượng acid trong dạ dày, giúp làm trống dạ dày. Khi uống thuốc điều trị bạn đừng đi đâu trong vòng 15 phút.
 
 (Theo Doanh Nhân Sài Gòn) 

Ăn uống với người viêm đại tràng mạn tính

Nếu bị tiêu chảy: không nên ăn chất xơ, không ăn rau, củ, quả sống, các loại trái cây chế biến dạng khô...

Bệnh lý viêm đại tràng mãn thực ra nó là tên gọi chung cho một nhóm bệnh do rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng thường gặp là do vi trùng lao, Amibe. Ngoài ra, còn một số bệnh viêm đại tràng mãn khác mà không tìm rõ căn nguyên như viêm đại tràng xuất huyết.
Đại tràng là đoạn ruột tiếp theo sau khi kết thúc đoạn ruột non, nó có chức năng là tái hấp thu các chất dinh dưỡng, nước, các chất khoáng, điện giải, vì thế nếu do một nguyên nhân nào đó gây xáo trộn chức năng hay gây ra tình trạng viêm nhiễm ở đoạn ruột này ta gọi là viêm đại tràng.
 Người viêm đại tràng cần ăn nhiều chất xơ nếu bị táo bón

Để chẩn đoán được căn nguyên của bệnh viêm đại tràng mạn tính thường phải dùng đến những phương tiện cận lâm sàng như X-Quang đại tràng có cản quang để khảo sát hình ảnh của đại tràng hay dùng phương pháp nội soi đại tràng, nhưng hiện nay phương pháp hữu hiệu nhất là nội soi đại trực tràng. Tuy nhiên, nội soi đại tràng có chống chỉ định nên không phải lúc nào và bệnh nhân nào cũng nội soi được.
Về điều trị viêm đại tràng mãn tính, ngoài việc dùng thuốc tùy theo nguyên nhân gây bệnh thì chế độ ăn cũng góp phần không nhỏ trong quá trình điều trị. Việc thay đổi chế độ dinh dưỡng tùy theo giai đoạn của bệnh góp phần làm giảm sự kích thích niêm mạc của đại tràng giúp cho đại tràng có cơ hội được nghỉ ngơi nhằm nâng cao khả năng hồi phục của đại tràng. Vì vậy, người bệnh cần tuân thủ chế độ ăn phù hợp theo các trình tự như sau:
Trong những ngày không có triệu chứng của bệnh, người bệnh có thể tự do lựa chọn những món ăn hợp khẩu vị, giàu chất dinh dưỡng để ăn và bồi dưỡng cơ thể. Tuy nhiên, cũng cần phải thận trọng với những chất kích thích như thức ăn có nhiều chất cay, tuyệt đối không được dùng cà phê, chocolate, trà hay các chất giàu chất béo, chất mỡ như các món ăn xào, chiên… vì khi đó sẽ làm cho niêm mạc đại tràng gia tăng kích thích và bệnh sẽ nặng thêm. Thông thường tâm lý của người bệnh là rất kiêng dè không dám ăn bất kể là khi có hoặc không có triệu chứng của bệnh, vì sợ ăn vào sẽ làm cho đau đớn, khó chịu cho nên rất dễ xảy ra tình trạng suy nhược cơ thể.
Khi có triệu chứng của bệnh, tùy theo tình trạng bệnh mà chúng ta thực hiện chế độ ăn cho thích hợp.
Nếu bị táo bón: cần tăng cường thêm chất xơ để cải thiện tình trạng đi tiêu đồng thời phải thực hiện tiết chế giảm chất mỡ, giảm chất béo. Cần chia các bữa ăn chính ra thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày, có thể 2 - 3 giờ ăn một lần để giảm tải cho đại tràng.
Nếu bị tiêu chảy: không nên ăn chất xơ, không ăn rau, củ, quả sống, các loại trái cây chế biến dạng khô, trái cây đóng hộp. Tuy nhiên, trái cây xay thì có thể dùng được.
Các sản phẩm từ sữa, tốt nhất là không dùng vì trong sữa có đường lactose là một loại đường rất khó tiêu hóa hơn nữa trong sữa còn có chất đạm có thể gây phản ứng dị ứng ở đường ruột làm cho niêm mạc ruột sưng phù gây nên tình trạng tiêu chảy nhiều hơn. Tuy nhiên đối với sữa đậu nành thì ta có thể dùng được vì trong sữa đậu nành không có những chất gây hại trên đại tràng.
Với người bệnh viêm đại tràng mãn tính, khi có các bệnh lý đau nhức đi kèm thì mỗi khi điều trị cần khai báo cẩn thận với bác sĩ điều trị về bệnh viêm đại tràng mãn. Người bệnh tuyệt đối không được tự ý mua thuốc ở các hiệu thuốc về điều trị đau nhức vì các thuốc giảm đau kháng viêm thuộc nhóm nonsteroides như Aspirine, Ibuprofenè, Voltarene… có tác dụng gây loét niêm mạc đường tiêu hóa trong đó có niêm mạc đại tràng dễ dẫn đến tình trạng xuất huyết tiêu hóa.
Người bệnh viêm đại tràng mãn tính phải có tinh thần lạc quan, an tâm trong điều trị, tin tưởng tuyệt đối vào bác sĩ, tránh âu lo phiền muộn, nhất là stress sẽ làm tình trạng bệnh càng thêm trầm trọng, khó khỏi.
 (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Đi ngoài phân đen - Dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa?

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên đi ngoài phân đen, trong đó có loại đi ngoài phân đen do trọng bệnh, thậm chí phải cấp cứu.

Đi ngoài phân đen có thể là bệnh lý nhưng đôi khi là chuyện bình thường.
 
Trong cuộc sống hằng ngày nhiều người thỉnh thoảng thấy đi ngoài phân đen hoặc có trường hợp đột ngột thấy đi ngoài phân đen kèm theo hoa mắt chóng mặt, vã mồ hôi, thậm chí truỵ tim mạch. Trong trường hợp đi ngoài phân đen do bệnh lý thì cần hết sức cẩn thận bởi có thể là trọng bệnh hoặc phải cấp cứu kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Vì sao đi ngoài phân đen?
Có rất nhiều nguyên nhân gây nên đi ngoài phân đen, trong đó có loại đi ngoài phân đen do trọng bệnh, thậm chí phải cấp cứu. Đi ngoài phân đen do ăn uống thì thường không phải là bệnh lý mà do thức ăn hoặc do màu sắc của thức ăn, ví dụ như người ăn tiết luộc hoặc ăn bánh gai sau một thời gian ngắn, thức ăn được tiêu hoá nhưng màu của thức ăn vẫn còn làm cho phân có màu đen.
Ảnh minh họa - nguồn Internet
 
Trong những trường hợp này, cần hết sức bình tĩnh và tự xem xét sức khoẻ bản thân mình có thay đổi gì không (mạch có nhanh không, có hoa mắt, chóng mặt không và nếu có điều kiện thử kiểm tra huyết áp có thấy thấp hơn bình thường không hoặc bắt mạch xem có nhanh không?). Về mặt bệnh lý nếu đi ngoài ra phân đen thường có tổn thương hệ hô hấp hoặc tổn thương ở phần trên hệ tiêu hoá (từ thực quản đến hành tá tràng). 
 
Có một số trường hợp chảy máu cam, chảy máu chân răng hoặc chảy máu lúc cắt amidan người bệnh nuốt máu xuống đường tiêu hoá, qua một chặng đường từ mũi họng xuống thực quản, dạ dày, xuống ruột bởi tác động của dịch vị và dịch ruột làm cho hồng cầu biến chất và trở thành đen. Chảy máu thực quản do khối u hoặc do vỡ tĩnh mạch thực quản cũng làm cho người bệnh nuốt máu xuống đường tiêu hoá và một thời gian sau đó đi ngoài thấy phân có màu đen. 
 
Xuất huyết dạ dày, đặc biệt là xuất huyết dạ dày - tá tràng là những trường hợp hay gặp ở người bệnh có tiền sử loét dạ dày - tá tràng. Phân của người bệnh do xuất huyết dạ dày - tá tràng có màu đen kịt giống như màu nhựa đường hoặc như bã cà phê kèm theo mùi hết sức đặc trưng mà người ta thường ví như mùi cóc chết.
 
Trong các trường hợp đi ngoài phân đen do xuất huyết ở phần trên ống tiêu hoá (từ tá tràng ngược lên thực quản) hoặc thuộc đường hô hấp trên, người bệnh thường có kèm theo các dấu hiệu bất thường về mạch và huyết áp (huyết áp tụt, mạch nhanh),vã mồ hôi, hồi hộp, đánh trống ngực, da mặt tái nhợt, nhất là xuất huyết dạ dày, tá tràng, vỡ tĩnh mạch thực quản. 
 
Các loại xuất huyết đường tiêu hoá ở thấp hơn (từ ruột non đến hậu môn) thường là máu đỏ tươi tức là màu của hồng cầu còn nguyên vẹn chưa bị mất màu. Đó là các bệnh như chảy máu do bệnh thương hàn (do vi khuẩn Salmonella gây ra), bệnh lồng ruột hay gặp ở trẻ em, bệnh loét túi thừa Meckel, bệnh viêm ruột xuất huyết hoại tử.
 
Một số trường hợp phân lẫn máu tươi tạo thành màu như máu cá, điển hình là bệnh lỵ trực khuẩn (do Shigella) mà thể bệnh nặng nhất, rõ rệt nhất là lỵ do Shigella shiga. Bệnh lỵ amíp cũng làm xuất hiện phân có máu nhưng là máu đỏ tươi kèm theo nhiều chất nhày được tiết ra lẫn với phân và máu (gọi là phân có máu, mũi). 
 
Ngoài ra người ta còn thấy một loại bệnh mạn tính kéo dài làm cho người bệnh thường đau bụng lâm râm ở vùng thượng vị và phân luôn luôn có màu đen, người bệnh thiếu máu trường diễn, đó là bệnh giun móc. Bệnh giun móc là do một loại giun có các móc ở hàm của chúng, khi hút máu chúng ngoạm 2 răng vào niêm mạc của tá tràng, ruột non, khi đã hút máu no, chúng ngừng nhưng máu vẫn chảy ri rỉ do độc tố của giun móc tiết ra làm ảnh hưởng đến quá trình đông máu và quá trình tạo máu.
 
Khi đi ngoài ra phân đen nên làm gì?

Nếu thấy phân đen không có liên quan gì đến thức ăn hoặc nước uống thì cần đi khám bệnh ngay, nhất là những ai đang mắc bệnh về dạ dày, tá tràng hoặc bệnh về gan (xơ gan). Những trường hợp này nếu đi ngoài ra phân đen là hết sức cẩn thận bởi vì nếu không sẽ bị truỵ tim mạch rất nguy hiểm cho tính mạng. 
 
Cũng cần lưu ý là đi ngoài ra phân đen bởi bệnh lý là những trường hợp cần cấp cứu nội khoa khẩn trương và thậm chí cấp cứu ngoại khoa (trong trường hợp cấp cứu nội khoa không cầm được sự chảy máu thì phải can thiệp ngoại khoa để cầm máu). Những người sinh sống ở vùng canh tác rau, đặc biệt là có dùng phân bắc để bón cho hoa màu mà hay bị đau bụng lâm râm kèm theo phân đen, da xanh, ngồi xuống - đứng dậy thấy hoa mắt chóng mặt thì cũng rất cần đi khám bệnh ngay.

 
(Theo Sức khỏe & Đời sống)