Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Giảm béo quá nhanh, gan dễ nhiễm mỡ


Khi cơ thể không nhận được năng lượng cần thiết, mỡ sẽ được lưu trữ trong các bộ phận khác của cơ thể.

Giảm béo quá nhanh có thể dẫn đến gan nhiễm mỡ - Ảnh minh họa: internet
Ăn uống thừa chất hay thường xuyên uống rượu bia chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh gan nhiễm mỡ.
Tuy nhiên cũng không phải chỉ có những người béo quá hay thừa chất mới bị gan nhiễm mỡ, những người giảm béo quá nhanh cũng có nguy cơ cao bị mắc gan nhiễm mỡ.
Đối với những người giảm béo bằng cách ăn kiêng: ăn hoa quả, rau xanh, vitamin sẽ dẫn đến trường hợp dinh dưỡng không cân bằng và nhiều khả năng gây nên bệnh gan nhiễm mỡ.
Khi cơ thể không có cách nào nhận được năng lượng cần thiết, chất mỡ sẽ được lưu trữ trong các bộ phận khác của cơ thể, protein sẽ được chuyển hóa thành glucose.
Mỡ và protein sẽ được chuyển hóa thành nhiệt lượng thông qua cơ quan trung chuyển là gan, một lượng lớn chất béo sẽ bị dồn vào gan.
Khi bắt đầu ăn kiêng, nguyên liệu để chuyển đổi không đủ, chất béo không thể chuyển hóa và tích tụ lại trong cơ thể và gây lên chứng bệnh gan nhiễm mỡ.
Theo Lan Phương - Vietnam+

Mức độ lây lan viêm gan B cao gấp 100 lần HIV


Trên thế giới hiện có khoảng 2 tỉ người (1/3 nhân loại) bị nhiễm viêm gan siêu vi B, trong đó 350-400 triệu người bị nhiễm mãn tính.




Trong số người bị viêm gan siêu vi B mãn tính có 20-40% bị các biến chứng nguy hiểm là xơ gan, suy gan và ung thư gan.
Mức độ lây lan và khả năng lây nhiễm viêm gan siêu B cao gấp 100 lần so với lây nhiễm HIV.
 
Viêm gan siêu vi C cũng đang lây nhiễm làm khoảng 180 triệu người trên thế giới mắc bệnh. Tại VN có khoảng 20% dân số bị nhiễm một trong hai loại viêm gan siêu vi này.
Đây là thông tin từ giáo sư Phạm Hoàng Phiệt - chủ tịch Hội Gan mật TP.HCM - tại cuộc họp báo về hội nghị khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần 1 “Những triển vọng trong điều trị bệnh viêm gan siêu vi B và C” do Hội Gan mật TP tổ chức ngày 18 và 19/6 tại TP.HCM.
Theo L.TH.H. - Tuổi Trẻ

Khoai lang kỵ với thực phẩm nào?


Khoai lang quen thuộc và bổ dưỡng nhưng khoai lang kỵ với thực phẩm nào, cách chế biến và nên ăn khi nào thì không phải ai cũng biết.




1. Khoai lang bổ dưỡng thế nào?

Loại thực phẩm này có chứa rất nhiều loại enzym và men tiêu hoá giúp dạ dày co bóp và tiêu hoá thức ăn một cách dễ dàng hơn. Khoai lang cũng rất giàu can-xi, tốt cho sự phát triển của xương.

Ngoài ra, hàm lượng calo trong khoai lang rất thấp nên là thực phẩm lý tưởng cho phái đẹp trong việc giảm cân.

2. Liệu ăn nhiều khoai lang có tốt?

Ăn khoai lang ở mức độ vừa phải sẽ rất có lợi cho hệ tiêu hoá. Nhưng nếu ăn quá nhiều lại dẫn đến hậu quả ngược lại. Khi cơ thể không kịp tiêu hoá hết, các axit và protein trong khoai lang sẽ tích tụ trong dạ dày, dẫn tới đầy bụng, khó tiêu, nấc, ợ nóng, thậm chí là tiêu chảy.

Nguyên nhân là do phản ứng của axit tiêu hoá, thành dạ dày bắt đầu co lại, đồng thời điểm tiếp giáp giữa dạ dày và thực quản mở rộng làm cho thức ăn dồn lên phía trên gây ợ chua và nấc nghẹn.


3. Chế biến khoai lang theo cách nào tốt nhất?

Các axit amin, protein và enzym tiêu hóa trong khoai lang sẽ hầu như đươc giữ nguyên khi chế biến bằng phương pháp luộc và hấp. Cũng cần lưu ý rằng, không nên luộc hoặc hấp khoai lang quá kỹ vì lượng chất dinh dưỡng mất đi sẽ tỷ lệ thuận với thời gian chế biến.

Nên hạn chế dùng khoai lang vào các món chiên xào vì khi đó, các enzym tiêu hoá sẽ bị phá huỷ, đồng thời protein sẽ kết hợp với dầu mỡ sẽ biến thành chất rất khó tiêu hoá dẫn tới đầy bụng, khó tiêu.

Tuyệt đối không nên ăn khoai lang sống vì dễ bị tiêu chảy.

4. Khoai lang “kỵ” với thực phẩm nào nhất?

Đó chính là quả hồng. Vì khi kết hợp 2 loại thực phẩm này, lượng đường trong khoai lang sẽ lên men trong dạ dày, từ đó làm tăng việc tiết axit dịch vị. Các men axit này kết hợp với chất tannin có trong quả hồng gây ra phản ứng tạo chất kết tủa, gây hại cho dạ dày. Lâu ngày có thể dẫn tới chảy máu hoặc viêm loét dạ dày. 

5. Nên ăn khoai lang vào thời điểm nào?

Bữa trưa là thời điểm lý tưởng nhất. Vì hàm lượng can-xi trong khoai lang sau cần tới 4-5h mới có hấp thụ hết và lúc đó cũng là thời điểm bạn cảm thấy hào hứng với bữa tối.

Theo Thu Lan - Dân trí/People

Gầy tong teo vẫn bị gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ


Cứ tưởng gầy gò thì không phải lo đến mấy cái bệnh của người béo, nhiều người không tin được khi bác sĩ bảo họ bị gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ...


Từ hồi thanh niên đến nay, anh Phú, 38 tuổi quê ở Bình Lục, Hà Nam, lúc nào cũng gầy, ăn ít. Sau một thời gian dài mệt mỏi, ăn không ngon, tiêu hóa kém, Phú nghi mình bị đau dạ dày nên đi khám. Các kết quả xét nghiệm cho thấy anh bị gan nhiễm mỡ. 

Còm nhom vẫn có mỡ thừa

Không chỉ Phú mà gia đình, người quen ai cũng ngạc nhiên với kết luận của bác sĩ. Có người còn nghi ngờ bệnh viện trả nhầm kết quả của một người nào khác cho anh Phú vẫn luôn nghĩ rằng chỉ có người béo mới thừa mỡ chứ “người lúc nào cũng còm nhom như anh Phú thì mỡ ở đâu ra mà thừa”.

Một trường hợp khác, bà Phùng, 52 tuổi, nhà ở phố Cự Lộc, Thanh Xuân, Hà Nội cũng rất ngạc nhiên khi nhận được kết quả xét nghiệm máu nhiễm mỡ, vì bà có thể trạng khá thanh mảnh, cao 1m55, nặng 46 kg. 

Bà thường xuyên thấy mệt mỏi, hụt hơi, hoa mắt, chóng mặt, đo huyết áp thấy tăng cao nên đến bệnh viện khám. Bác sĩ cho biết bà  bị bệnh máu nhiễm mỡ. Chính vì bà không biết để có biện pháp điều chỉnh kịp thời khiến hàm lượng mỡ trong máu tăng cao nên mới bị cao huyết áp.

Theo bác sĩ Trần Thu Thủy, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội, thường thì hiện tượng bị dư thừa hàm lượng mỡ trong cơ thể xảy ra ở người béo nhiều hơn, nhưng không có nghĩa người gầy thì không có lượng mỡ thừa tích trữ trong cơ thể, và điều này có nhiều nguyên nhân.

Đầu tiên phải kể đến chế độ ăn. Bác sĩ Thủy giải thích, ở những người có thói quen ăn ít hay ăn kiêng quá mức,  lượng đường trong máu thấp nên cơ thể phải tự điều chỉnh tăng hấp thu để phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp cho cơ thể.

Quá trình này khiến lượng axit béo đi vào trong máu quá nhiều, vượt quá mức cho phép và có thể kéo theo cả việc tích trữ mỡ trong gan, tim, tụy… cũng tăng lên. 

Hơn nữa, tình trạng suy dinh dưỡng của cơ thể lâu ngày gây thiếu một số chất vốn rất cần thiết để “thanh lọc” bớt mỡ ra khỏi cơ thể và mỡ sẽ bị tích tụ. Người gầy lại thường “lười” vận động, tập thể dục nên cũng là một nguyên nhân khiến cơ thể khó giải phóng lượng mỡ thừa trong cơ thể.

Một nguyên nhân khác là tình trạng rối loạn gene và có yếu tố gia đình. Nếu bố hay mẹ từng phải điều trị tình trạng rối loạn chuyển hóa mỡ thì các con cũng có thể gặp tình trạng tương tự dù họ không hề thừa cân.  

Những ảnh hưởng của môi trường sống, làm việc, tình trạng stress, căng thẳng quá mức cũng khiến hệ thần kinh có những phản ứng lại và có thể sẽ gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể.

Có thể kéo theo nhiều bệnh nguy hiểm

Những người bị rối loạn chuyển hóa mỡ, gan nhiễm mỡ lúc đầu thường khó phát hiện vì triệu chứng không rõ ràng. Một số người thấy mệt mỏi, kém ăn, nhưng các biểu hiện này dễ gây nhầm với các bệnh khác.

Ở mức độ nhẹ, rối loạn chuyển hóa mỡ ở máu hoặc gan, tim… chưa gây hại nhiều đến sức khỏe. Nhưng nếu để lâu, bệnh tiến triển nặng sẽ kéo theo các bệnh khác như cao huyết áp, xơ vữa động mạch hay viêm gan, xơ gan, tiểu đường…, có thể nguy hiểm đến tính mạng. 

Vì thế, theo bác sĩ Thủy, việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết đối với tất cả mọi người. Điều này giúp phát hiện sớm bệnh tật để điều trị kịp thời, tiết kiệm được cả thời gian và tiền bạc.

Để phòng tránh “thừa mỡ”, căn bệnh khá phổ biến của xã hội hiện đại, cần có thói quen sinh hoạt, ăn uống lành mạnh. Không nên ăn quá nhiều các chất được cảnh báo có hại nhưng cũng không kiêng khem quá mức khiến cơ thể bị thiếu chất, mất cân bằng sinh lý. Việc tăng cường vận động, rèn luyện cơ thể bằng các hoạt động thể dục thể thao phù hợp giúp cơ thể điều hòa, dễ dàng hấp thu các chất có lợi và đào thải chất có hại cho cơ thể. 

Đối với những người gầy mà vẫn bị “thừa mỡ”, tốt nhất là tăng cường bổ sung năng lượng cho cơ thể, chế độ ăn nên có nhiều vitamin, protein, cenlulo... để cân bằng các chất cần thiết. Có thể sử dụng một số loại thuốc làm giảm lipid trong máu, nhưng phải do bác sĩ kê đơn tùy theo tình trạng của từng người, không được sử dụng tùy tiện.
 
Theo Báo Đất Việt

Biện pháp kiểm soát hội chứng ruột kích thích


Không sử dụng các thuốc nhuận tràng để điều trị táo bón. Việc sử dụng các thuốc này có thể gây suy yếu ruột và khiến cơ thể phụ thuộc vào thuốc





Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) xảy ra khi ruột co thắt quá mạnh hoặc không đủ mạnh khi thức ăn đi qua. Triệu chứng có thể bao gồm tiêu chảy hoặc táo bón, trướng bụng và cảm giác vẫn cần phải đi đại tiện, mặc dù vừa mới đi.

Học viện Bác sĩ gia đình Mỹ cung cấp một số gợi ý giúp kiểm soát các triệu chứng HCRKT, bao gồm: hạn chế các chất béo trong chế độ ăn và tăng cường các loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe; tăng cường chất xơ trong chế độ ăn hoặc sử dụng chế phẩm bổ sung chứa chất xơ; tránh thực phẩm có nguy cơ gây khởi phát các triệu chứng HCRKT; uống nhiều nước hằng ngày; chia nhỏ các bữa ăn thành 6 bữa nhỏ thay vì chỉ ăn 3 bữa;
 
Không sử dụng các thuốc nhuận tràng để điều trị táo bón. Việc sử dụng các thuốc này có thể gây suy yếu ruột và khiến cho cơ thể phụ thuộc vào thuốc; tìm hiểu và áp dụng các kỹ thuật kiểm soát stress.

Theo Đinh Đại - Sức khỏe & Đời sống (HealthDay News)

Hội chứng ruột kích thích


Hội chứng ruột kích thích biểu hiện: đau bụng, rối loạn đại tiện, đầy bụng, sôi bụng,... tái phát nhiều đợt và kéo dài


Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là một trong những bệnh lý đường ruột thường gặp nhất với tỷ lệ mắc bệnh từ 5%- 20% dân số ở nước ta. Những biểu hiện: đau bụng, rối loạn đại tiện, đầy bụng, sôi bụng,... tái phát nhiều đợt và kéo dài khiến người bệnh luôn có cảm giác khó chịu, lo lắng, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.

Không có nguyên nhân thực thể: 

HCRKT còn gọi là rối loạn chức năng ruột hoặc rối loạn chức năng ống tiêu hóa vì không tìm thấy một tổn thương thực thể như: các loại bệnh viêm loét đại tràng (viêm loét đại trực tràng chảy máu, bệnh Crohn...), các khối u đại trực tràng, viêm đại tràng nhiễm khuẩn, hội chứng rối loạn hấp thu ... . hay rối loạn sinh học nào.

Theo nghiên cứu thì cơ chế sinh bệnh của HCRKT bao gồm:

Rối loạn vận động của ruột (tăng nhu động biểu hiện bằng đại tiện lỏng, giảm nhu động biểu hiện bằng táo bón). Rối loạn về cảm thụ của ống tiêu hóa: ống tiêu hóa dễ bị kích thích vì giảm ngưỡng cảm thụ nội tạng biểu hiện bằng đau bụng. Các yếu tố thần kinh trung ương: căng thẳng, rối loạn về tinh thần, yếu tố tâm lý cũng là yếu tố gây nên các triệu chứng của HCRKT.  Điều này lý giải cho xu hướng bệnh ngày càng tăng trong xã hội hiện đại.

Khám cho bệnh nhân tại khoa Tiêu hóa - Bệnh viện Hoàn Mỹ - TP.HCM.
       Ảnh: TL

Biểu hiện đặc trưng:

Triệu trứng của HCRKT bao gồm:

Đau bụng: Đau là triệu chứng chủ yếu của HCRKT. Cơn đau lan toả hoặc khu trú hố chậu trái, quanh rốn, hố chậu phải. Đau trên rốn thường từng cơn mạnh. Đau dưới rốn thường có tính chất âm ỉ. Cường độ đau thường ê ẩm, khó chịu đến đau nhiều, có khi phải đi cấp cứu. 
Rối loạn đại tiện (lỏng hoặc táo bón): 

Đi lỏng: Sáng dậy, người bệnh thường bị đau quặn thắt bụng muốn đi đại tiện, sau khi ăn lại có triệu chứng đó. Trước khi đại tiện thấy đau ê ẩm hoặc đau quặn, đại tiện xong thường thấy dễ chịu. Có người còn cảm thấy đau tức khó chịu ở hậu môn, mót đi ngoài hoặc có cảm giác như đi chưa hết phân, có khi phải ngồi lâu mặc dù phân lỏng.  
Táo bón:  Người bệnh đau quặn bụng muốn đi đại tiện, khi đi xong thì hết đau. Phân khô cứng thành cục nhỏ, lớp nhầy bám vòng quanh hoặc như phân dê. Thời gian bị táo bón thường 3-4 ngày 1 lần hoặc 1 tuần 1 lần.  Có một số bệnh nhân không cảm giác đau, phải ngồi rất lâu.


 Đầy hơi, sôi bụng:  Sau ăn được nửa bữa đã có cảm giác khó chịu đau bụng phải ợ hay trung tiện mới dễ chịu. Đầy hơi thường kèm với sôi bụng, có khi cuộn ruột thành từng đoạn cứng và đau, xoa day một lúc hoặc để tự nhiên cũng mất đi hoặc đoạn cứng di chuyển sang chỗ khác. 
Phần lớn người bệnh bị HCRKT thường có trạng thái thần kinh không ổn định, dễ nhạy cảm, hay lo nghĩ hồi hộp, ra nhiều mồ hôi chân tay vào mùa đông, có đau đầu theo thời tiết, ở nữ đau bụng khi hành kinh.

Điều trị triệu chứng là chính
 
 HCRKT không có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn. Việc điều trị theo triệu chứng thường có hiệu quả làm giảm sự khó chịu cho người bệnh. Tuy không làm dứt hẳn mọi triệu chứng nhưng sẽ cải thiện tốt hơn chất lượng cuộc sống của người bệnh. Các loại thuốc dùng trong điều trị HCRKT thường là thuốc giảm đau, giảm co thắt,  thuốc chống táo bón kết hợp uống nhiều nước, ăn thức ăn nhiều chất xơ, thuốc chống tiêu chảy, đầy hơi và thuốc an thần nếu người bệnh bị mất ngủ. Việc dùng thuốc phải theo hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa.

Việc thực hiện một chế độ ăn hợp lý đóng một vai trò rất quan trọng trong điều trị HCRKT. Khi đang có triệu chứng rối loạn tiêu hóa, người bệnh nên tránh ăn các thức ăn khó tiêu, đầy hơi.
Ngoài ra cần luyện tập thói quen đại tiện 1 lần trong ngày, thường xuyên tập thể dục, thư giãn, tránh căng thẳng để làm giảm yếu tố sinh bệnh.

Theo Bác sĩ  Trọng Nghĩa - Sức khỏe & Đời sống

Hội chứng ruột kích thích và thuốc điều trị


Để giảm các triệu chứng, bệnh nhân cần chú ý các thức ăn làm bệnh tăng như: cà phê, bia, chất xơ, các chế phẩm từ sữa, nhiều chất béo…




Hội chứng ruột kích thích hay còn gọi là hội chứng đại tràng kích thích; đại tràng co thắt. Là một thực thể bệnh lý nằm trong các rối loạn chức năng ống tiêu hóa.

Gọi là rối loạn chức năng vì không tìm thấy một tổn thương thực thể hay rối loạn sinh học nào. Toàn bộ ống tiêu hóa có biểu hiện: nuốt khó, trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn tiêu hóa, đau ngực không do bệnh tim; táo bón hoặc tiêu chảy, đau bụng, chướng bụng.

Triệu chứng

 Mô hình đại tràng trong ổ bụng.

Các triệu chứng thay đổi khác nhau ở mỗi bệnh nhân và có thể thay đổi theo thời gian. Mỗi triệu chứng có thể gặp riêng lẻ trong các triệu chứng rối loạn chức năng ruột khác. Trong các triệu chứng, người ta phân ra các thể loại lớn:
Các triệu chứng về tiêu hóa: Đau bụng hoặc bụng khó chịu.

Đau là triệu chứng chủ yếu của hội chứng ruột kích thích, có khi đau khiến bệnh nhân phải thức dậy khi đang ngủ. Đau tăng khi bệnh nhân thấy căng thẳng hoặc mệt nhọc, giảm đau khi nghỉ ngơi.

Khó chịu là cảm giác nặng bụng, thậm chí có cảm giác có khối đá đè trong bụng. Đau và khó chịu sẽ bớt khi đại tiện, trung tiện được và tăng lên khi bị táo bón.

Chướng bụng: rất thường gặp, đôi khi lại đứng hàng đầu. Lúc ngủ dậy thì không bị, nhưng trong ngày tăng dần lên.

Rối loạn chuyển vận ruột: biểu hiện bằng số lần đi cầu, thay đổi mật độ và hình dạng của phân như tiêu chảy hoặc táo bón. Hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy ít gặp hơn thể táo bón. Rối loạn chuyển vận ruột có thể ảnh hưởng đến cách thức đi ngoài: mót rặn, đau nhẹ hậu môn, phân có nhày mũi, són phân.

Các triệu chứng tiêu hóa ở cao: Trào ngược dạ dày thực quản: cảm giác nóng ở thượng vị, buồn nôn, nuốt khó, cảm giác có cục vướng ở họng hoặc đau ngực không do bệnh tim.

Các dấu hiệu không phải tiêu hóa phối hợp: Bệnh nhân có thể có các triệu chứng ngoài tiêu hóa rất khác nhau.

Đái khó, rối loạn về phụ khoa, đau nhức đầu, đau lưng, mệt mỏi, khó ngủ, đau cơ. Mệt mỏi hay gặp nhất và gây trở ngại nhất.

Các triệu chứng về tâm lý rất hay gặp ở bệnh nhân có hội chứng ruột kích thích, thường là trạng thái suy sụp, lo lắng đôi khi còn hơn là người có bệnh thực thể.

Điều trị

Phần lớn trường hợp mắc hội chứng ruột kích thích không có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn; Chưa có một thuốc đơn độc nào có hiệu quả duy nhất với hội chứng ruột kích thích; Điều trị theo triệu chứng nổi trội là hợp lý và hữu ích.

Để giảm các triệu chứng, bệnh nhân cần thực hiện chế độ vệ sinh ăn uống. Cần chú ý các thức ăn làm bệnh tăng như: cà phê, bia, chất xơ, các chế phẩm từ sữa, ăn uống thái quá, nhiều chất béo, tránh sinh hoạt làm việc căng thẳng. Ngoài ra, thuốc nhuận tràng đôi khi cũng làm tăng triệu chứng.

Trong nhiều trường hợp nếu chỉ dùng biện pháp vệ sinh, chế độ ăn uống thôi thì không đủ. Cần phải điều trị bằng thuốc, tùy vào triệu chứng nổi trội và nên phối hợp các thuốc. Cụ thể như sau:

Thuốc chống tiêu chảy: Loperamid (inodium) là một opioid, không qua hàng rào máu não, làm giảm nhu động ruột. Viên 2mg, 1-2viên x 2-3 lần/ngày.

Diphenoxylate (diarsed), viên có chứa diphenoxylate và atropine, điều trị tăng vận động ruột.

Thuốc chống táo bón: Forlax gói 10g. Cisapride cũng có khả năng làm tăng vận động chuyển ruột.

Thuốc chống đau: Nếu đau là triệu chứng nổi trội thì có thể dùng các thuốc chống co thắt, kháng cholin, các thuốc chống trầm cảm, an thần, các thuốc ức chế kênh calci, các thuốc điều chỉnh ngưỡng đau.

Đau sau ăn: dicyclomine, dicycloverine (kremil-S); chống co thắt uống spasmaverine; thuốc kháng cholinergic; pinaverium (dicetel), thuốc đối kháng Ca ở dạ dày – ruột, trimebutine (debridat); nospa viên; mebeverine (dupastaline), một dẫn chất của papaverine.


Theo GS.TS. Tạ Long - Sức khỏe & Đời sống