Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

6 thứ tốt cho hệ tiêu hóa bạn cần bổ sung

Nếu hệ tiêu hóa của bạn không hoạt động tốt, mỗi tiến trình đơn lẻ trong cơ thể của bạn sẽ ảnh hưởng xấu. Do đó, bạn cần bổ sung dinh dưỡng để hệ tiêu hóa hoạt động khỏe mạnh.

Men vi sinh
Men vi sinh có chứa các vi khuẩn sống có lợi cho sức khỏe. Những vi khuẩn giống vi sinh vật trong ruột giúp hỗ trợ tiêu hóa. Bổ sung men vi sinh là hữu ích để điều trị các vấn đề tiêu hóa và tăng cường sức khỏe đường tiêu hóa nói chung. Hãy tham khảo các công thức uống men vi sinh hoặc thêm chúng vào sữa chua của bạn.
6 thứ bạn cần bổ sung để tốt cho hệ tiêu hóa.6 thứ bạn cần bổ sung để tốt cho hệ tiêu hóa
Cam thảo DGL
Cam thảo DGL là loại thuốc làm từ thảo dược cam thảo, với các glycyrrhizin đã được loại bỏ. Nó được sử dụng để làm mát và điều trị chứng ợ nóng và khó tiêu mãn tính, trào ngược axít và loét dạ dày. DGL được sản xuất theo nhiều dạng, như viên nén, viên nang, trà và bột. DGL không được khuyến cáo cho phụ nữ mang thai.
Dầu bạc hà
Cây bạc hà đã được sử dụng như một phương thuốc thảo dược trong nhiều thế kỷ. Nó có khả năng làm giảm các vấn đề đường tiêu hóa bằng cách ngăn chặn dòng chảy của canxi vào các tế bào cơ bắp trong ruột, giúp làm giảm co thắt cơ bắp. 
Dầu bạc hà là một cách điều trị tự nhiên được sử dụng để làm giảm hội chứng ruột kích thích. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dầu bạc hà có thể làm giảm bớt sự khó chịu và đầy hơi gây ra bởi hội chứng ruột kích thích.
Hoa cúc
Hoa cúc có hiệu quả trong việc điều trị một số bệnh. Các loại tinh dầu trong hoa cúc có lợi cho hệ tiêu hóa. Hoa cúc làm dịu căng thẳng của quá trình tiêu hóa bằng cách tác động trên dây thần kinh thứ cấp và cơ bắp, giúp thư giãn toàn bộ cơ thể. Hoa cúc làm thư giãn các thành ruột, giảm bớt cảm giác đau và loại bỏ khí.
Gừng
Ở châu Á, gừng được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc để điều trị đau dạ dày. Ở các nước phương Tây, gừng được sử dụng để điều trị buồn nôn và nghén trong thai kỳ. Đó là một cách điều trị đơn giản và có thể được hấp thụ dưới dạng viên nén hoặc bằng một vài lát gừng tự nhiên. Nó rất an toàn và nên dùng với liều lượng nhỏ, khoảng 1-3 gram mỗi ngày.
Chất Psyllium
Chất Psyllium có hiệu quả cao trong việc điều trị táo bón. Nó được sử dụng như một thành phần trong một số thuốc nhuận tràng. Hàm lượng chất xơ cao sẽ giúp hấp thụ nước trong ruột. Điều quan trọng là để tăng lượng chất lỏng của bạn trong khi điều trị táo bón. Điều này giúp bạn tránh bị mất nước hay và ngăn ngừa tình trạng táo bón ngày càng trầm trọng.

Chế độ ăn uống cho thai phụ đau dạ dày

 Ảnh minh họa

Do thay đổi sinh lý, nội tiết thai phụ khó ăn, nôn mửa, sức đề kháng giảm nên dễ bị đau dạ dày. Tần suất xuất hiện những cơn đau dạ dày nhiều hơn, trào ngược dạ dày thực quản, dễ có nguy cơ nhiễm Helicobacter Pylori hơn.
Khi mắc bệnh, đa số thai phụ đều ngại đi khám bệnh do sợ gặp bác sĩ sẽ phải uống thuốc nên có xu hướng tự điều trị bằng thảo dược hoặc các bài thuốc dân gian. Trong trường hợp này, thai phụ cần đến cơ sở y tế và thông tin chi tiết cho bác sĩ về tình trạng đau dạ dày cũng như tình trạng nôn mửa, khó chịu khác về tiêu hóa. Sau khi kiểm tra, xác định bệnh, bác sĩ sẽ đưa ra hướng điều trị thích hợp. 
Trong một số trường hợp, bệnh nhân chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và sinh hoạt hợp lý. Nếu tình trạng nôn mửa, rối loạn tiêu hóa và cơn đau vẫn xuất hiện nhiều thì bác sĩ mới tính đến phương án dùng thuốc. Bác sĩ sẽ cân nhắc và chỉ sử dụng những nhóm thuốc, liều lượng thuốc, thời gian dùng thuốc để khỏi bệnh, giảm các triệu chứng khó chịu của mẹ, mà không ảnh hưởng đến thai nhi. 
Thai phụ không nên cố gắng chịu đựng sẽ làm ảnh hưởng dinh dưỡng và sự phát triển của bào thai. Ăn uống hợp lý không những giúp thai phụ khống chế được cơn đau dạ dày mà còn điều trị hiệu quả căn bệnh này. 
Nên ăn những món ăn ít có tính kích thích nên chia nhỏ và đều các bữa ăn trong ngày, bữa ăn cuối trong ngày nên cách giờ đi ngủ từ 3 - 4h và không ăn quá khuya. Tránh ăn thức ăn quá chua, quá cay, nhiều gia vị và hóa chất, không ăn quá no hoặc để bụng quá đói.

10 thực phẩm là “khắc tinh” của bệnh trĩ

Diệt vi khuẩn Helicobacter pylori giúp giảm ung thư dạ dày

Các BS từ Hoa Kỳ đã làm một bảng phân tích tổng hợp kết quả từ sáu nghiên cứu tại Nhật Bản và Trung Quốc trên 6.497 bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn H.pylori nhưng không biểu hiện triệu chứng.

Sau hai năm theo dõi, các tác giả nhận thấy, tỷ lệ bệnh nhân bị ung thư dạ dày trên những người đã điều trị tiêu diệt vi khuẩn H.pylori chỉ bằng 0,66 lần so với người không điều trị tiêu diệt vi khuẩn H.pylori.
H.pylori là vi khuẩn sống trong dạ dày, gây bệnh viêm loét dạ dày và làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày. Tuy nhiên, cũng có khi vi khuẩn có trong dạ dày nhưng không gây triệu chứng. Vi khuẩn lây qua đường ăn uống. Việc điều trị bệnh khá đơn giản với những phác đồ phối hợp kháng sinh và các thuốc chống tiết axít dịch dạ dày.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

Đau bụng là triệu chứng của bệnh gì?

Đau bụng là triệu chứng thường gặp của nhiều người. Có nhiều nguyên nhân gây ra chứng đau bụng. Dưới đây là những cảnh báo bệnh lý mà bạn đặc biệt cần quan tâm

Đau bụng do đau đại tràng
Đau bụng kèm theo một vài triệu chứng nôn, ăn khó tiêu, đầy bụng...có thể là cảnh báo của bệnh lý đại tràng.Nếu không kiên trì chữa dứt điểm thì bệnh rất dễ tái phát, trở thành mãn tính. 
Một khi đã mắc bệnh viêm đại tràng mãn tính, việc chữa trị trở nên rất khó khăn vì khi ấy, đã xuất hiện những tổn thương sâu và rộng trên biểu mô niêm mạc đại tràng, nhiều bệnh nhân phải chấp nhận "sống chung" với bệnh trong nhiều năm, thậm chí cả đời.
Cảnh báo bệnh lý từ hiện tượng đau bụng

Đau bụng do ung thư dạ dày
Ung thư dạ dày thường có ít triệu chứng biểu hiện cụ thể, và nếu ở giai đoạn sớm thì nó không có biểu hiện nào. Vì vậy bệnh rất khó phát hiện. Bệnh nhân có thể ăn không ngon, sụt cân không rõ nguyên nhân và đau bụng mạn tính. 
Tuy nhiên, đau dạ dày hoặc rối loạn tiêu hóa (đau hoặc khó chịu ở vùng bụng trên) là triệu chứng rất phổ biến và là dấu hiệu chung của các bệnh thông thường ở đường tiêu hóa như trào ngược a-xít thoặc viêm dạ dày.
Do vậy, nhiều người, ngay cả với bác sĩ, có thể không nghi ngờ ngay lập các dấu hiệu đó là ung thư dạ dày. Đây là lý do tại sao ung thư thường được phát hiện muộn. Một số triệu chứng ít phổ biến của ung thư dạ dày thường có xu hướng phát ra ở giai đoạn bệnh chuyển biến nặng như nôn mửa và đi ngoài phân có màu đen - dấu hiệu của xuất huyết dạ dày.
Đau bụng do viêm đường tiết niệu
Viêm đường tiết niệu xảy ra chủ yếu do nguyên nhân vi khuẩn xâm nhập vào đường tiết niệu gây nên hiện tượng viêm nhiễm. Nữ giới có khả năng mắc chứng bệnh này cao hơn nam giới do cấu tạo niệu đạo. Các triệu chứng của bệnh như tiểu rát, tiểu gấp, đau bụng dưới,…
Khi gặp các triệu chứng của bệnh viêm đường tiết niệu, người bệnh cần đến các trung tâm y tế để được thăm khám, xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và có cách điều trị cụ thể.


Phát hiện sớm polyp để ngừa ung thư

Polyp (u lành) thường có trong đại tràng, dạ dày... từ vài cái đến hàng nghìn cái. Phát hiện sớm polyp chỉ cần nội soi qua đường tự nhiên để cắt bỏ.

Nhưng nếu không điều trị polyp có thể chuyển sang ung thư.
Nội soi đại tràng tầm soát polyp tại BV Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) - Ảnh: Đặng Lê
Ông N.V.Q. (50 tuổi, ngụ Long An) thường đau bụng, rối loạn tiêu hóa gần một năm nay. Ông đến Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) khám và được bác sĩ nội soi chẩn đoán bệnh “đa polyp gia đình” với gần 100 polyp nằm rải rác trong ruột già.
Bệnh “đa polyp gia đình” có nguy cơ chuyển thành ung thư ruột già với tỉ lệ lên đến 95%, do vậy khi phát hiện phải cắt bỏ triệt để toàn bộ các polyp này.
BS Trần Ngọc Lưu Phương

Nhiều người trong gia đình mắc bệnh
Với phương pháp nội soi ruột già từ đường hậu môn, bác sĩ đã cắt 37 polyp ở ruột già của ông N.V.Q. và ông được xuất viện ngay trong ngày. Những polyp còn lại được bác sĩ hẹn cắt trong những lần tới. Bệnh này có tính chất di truyền nên bác sĩ khuyên các con ông Q. nên nội soi kiểm tra xem có polyp không.
Dù chưa có triệu chứng gì nhưng ba người con ông Q. đều đến bệnh viện nội soi ruột già kiểm tra. Qua nội soi, bác sĩ đã phát hiện một người con trai (22 tuổi) của bệnh nhân có 20 polyp ở ruột già và đã được cắt bỏ.
TS.BS Lê Quang Nhân, Trung tâm huấn luyện nội soi BV Đại học Y dược TP.HCM, cho biết bệnh viện này từng tiếp nhận nhiều người trong một gia đình cùng bị bệnh đa polyp gia đình.
Đặc điểm của bệnh này là bệnh nhân có sắc tố nâu ở niêm mạc má, có polyp ở một hoặc nhiều vị trí như dạ dày, ruột non, đại trực tràng.
Trường hợp bệnh nhân có polyp ở cả ba vị trí trên, bác sĩ sẽ cắt polyp ở đại tràng trước vì nơi này thường có tỉ lệ ung thư cao, sau đó mới cắt ở những vị trí còn lại.
BS.CK2 Trần Ngọc Lưu Phương, trưởng đơn vị nội soi tiêu hóa can thiệp BV Nguyễn Tri Phương, cho biết người mắc bệnh này sẽ xuất hiện hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn polyp to nhỏ khác nhau trong ruột già, và có thể kèm theo hàng chục polyp khác ở dạ dày, ruột non.
Thông thường bệnh nhân bắt đầu xuất hiện các khối polyp to nhỏ khác nhau trong ruột già từ tuổi dậy thì nhưng hiếm khi triệu chứng xuất hiện trước tuổi 33.
Những trường hợp nên nội soi ruột già kiểm tra
Theo BS Trần Ngọc Lưu Phương, những trường hợp sau đây nên đi nội soi ruột già kiểm tra: người bị thiếu máu mãn tính, người thường đau bụng vùng rốn, đau bụng dưới tái đi tái lại, người bị thay đổi thói quen đi cầu hằng ngày, người bị ung thư đại tràng hoặc polyp đại tràng.
Ngoài ra, người từ 50 tuổi trở lên dù không có triệu chứng gì và người từ 40 tuổi nhưng có người thân trong gia đình bị ung thư đại tràng hoặc polyp đại tràng cũng nên đi nội soi ruột già kiểm tra.

Hơn 2/3 bệnh nhân không có triệu chứng, còn lại thường có biểu hiện dễ bị tiêu chảy, có người bị tiêu chảy xen kẽ táo bón, hoặc đi cầu phân có lẫn máu, một số ít trường hợp đi cầu bình thường nhưng lại biểu hiện đau quặn bụng dọc theo khung ruột già.
Một số trường hợp có biểu hiện giống viêm dạ dày mãn tính với triệu chứng đầy hơi khó tiêu. Khi số lượng polyp trong ruột già quá nhiều, cần phẫu thuật cắt bỏ đoạn ruột già có các polyp này để tránh nguy cơ chuyển thành ung thư.
Còn nếu số lượng polyp không quá nhiều, khoảng 50 - 60 polyp có thể cắt bỏ triệt để các polyp này qua nội soi ruột già.
90% người bệnh không có triệu chứng
Bệnh polyp dạ dày là các khối u lành tính có kích thước từ 3-4mm cho đến 2-3 cm xuất phát trên bề mặt dạ dày. Polyp dạ dày có thể chỉ 1-2 cái nhưng có trường hợp có đến 5-10 cái hoặc hàng chục cái. Khoảng 1% dân số mắc căn bệnh này.
Qua thực tế khám chữa bệnh, BS Lưu Phương ghi nhận 95% số bệnh nhân đi khám bệnh và nội soi phát hiện có polyp dạ dày vì các triệu chứng đầy bụng, khó tiêu hoặc đau tức vùng bụng trên rốn. Khi các polyp có kích cỡ lớn sẽ gây chảy máu rỉ rả, gây ói ra máu hoặc đi cầu phân đen.
Nếu không được phát hiện và cắt bỏ polyp, người bệnh sẽ bị thiếu máu mãn tính với các biểu hiện chóng mặt, mệt mỏi, hoa mắt, xanh xao, sụt cân. Nội soi dạ dày qua miệng là phương pháp duy nhất để chẩn đoán những trường hợp này.
Ngoài ra, các bác sĩ cũng sinh thiết dạ dày để xem polyp có chuyển sang ung thư hay không. Nguyên nhân gây ra các loại polyp dạ dày là do bệnh nhân bị nhiễm vi trùng Hp, hút thuốc lá, rượu bia, dùng thuốc ức chế tiết acid dạ dày liều cao kéo dài nhiều năm...
Theo BS Phương, bệnh polyp đại tràng phổ biến hơn bệnh polyp dạ dày với tỉ lệ mắc bệnh khoảng 5-6% dân số. Những yếu tố làm khởi phát bệnh như cơ địa, có thể do di truyền, tuổi cao trên 60, người béo phì, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, chế độ ăn nhiều chất béo, thiếu chất xơ, thiếu calcium, thiếu selenium.
90% người bệnh không có triệu chứng và chỉ 10% có triệu chứng như đau vùng bụng dưới, rối loạn thói quen đi cầu hằng ngày (lúc bón, lúc tiêu chảy) hoặc một số bệnh nhân có triệu chứng như kiết lỵ (cảm giác mót rặn, phân có đàm nhầy, cảm giác đi cầu không hết). Khả năng polyp đại tràng chuyển sang ung thư đại tràng tùy thuộc kích thước polyp và số lượng polyp.
Thống kê cho thấy một người mắc bệnh có ba polyp trở lên thì khả năng chuyển sang ung thư có thể lên đến 15 - 20% và những polyp có kích thước to từ 1cm trở lên, khả năng chuyển sang ung thư cũng đến 10-15%.
Nội soi ruột già qua hậu môn là phương pháp duy nhất để chẩn đoán, đồng thời cũng cần sinh thiết lấy một mẫu nhỏ polyp để nhìn dưới kính hiển vi nhằm chẩn đoán chính xác polyp có chuyển sang ung thư hay không.
Với kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi, bác sĩ đã cắt được những polyp to ở ruột già đã chuyển sang ung thư giai đoạn sớm với điều kiện polyp không quá to và chưa dính sâu vào thành ruột già. Sau khi cắt thành công qua nội soi, bác sĩ sẽ nội soi ruột già kiểm tra lại trong vòng 3-6 tháng sau đó.
Nếu ổn định, bệnh nhân sẽ được nội soi kiểm tra lại ruột già trong vòng 1-3 năm sau đó. Khi phát hiện có polyp tái phát, bác sĩ sẽ cắt bỏ các polyp tái phát này qua nội soi.
Để phòng tránh polyp ở ruột già, BS Lưu Phương khuyên không nên hút thuốc lá, rượu bia, tăng cường tập thể dục, tránh béo phì, ăn nhiều rau xanh và trái cây, hạn chế ăn chất béo và thịt có màu đỏ, bổ sung thêm calcium từ thức ăn và sữa.


Báo động bệnh loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em

Loét dạ dày - tá tràng (DDTT) là bệnh tương đối không thường gặp nhưng có nguy cơ ảnh hưởng tới tính mạng trong các bệnh đường tiêu hóa của trẻ em. Ths.BS Nguyễn Phúc Thịnh - Khoa Tiêu Hóa, BV Nhi Đồng 1, TPHCM, cho biết: tại phòng nội soi khoa Tiêu Hóa trong 2 năm qua, bệnh DDTT ngày càng nhiều, Điều trị thành công với tỉ lệ ngày càng thấp dù đúng phác đồ.
Đau bụng kéo dài là biểu hiện điển hình
Trong vòng 7 tháng BV Nhi Đồng 1 đã phát hiện 56 trường hợp loét DDTT trong 396 trẻ nội soi tiêu hóa. Số bệnh nhân nam mắc bệnh chiếm 85%, nữ 15% với độ tuổi trung bình là 11 tuổi, trẻ nhỏ nhất là 6 tuổi và lớn nhất là 16 tuổi. Bệnh nhi nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa trên chiếm tới 71,7%, trong đó, tiêu phân đen là 45,3% và ói ra máu 26,4%. Triệu chứng thường gặp còn lại là đau bụng kéo dài trên 3 tháng chiếm 26,4%. 
Đa số các bệnh nhân đều có các tiền sử trước khi được chẩn đoán xác định là đau bụng kéo dài (56,4%) và thiếu máu mạn tính (20,8%) mà chưa được nội soi. Tỉ lệ phát hiện ra loét DDTT trong tất cả bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên là 13,38% (56 trên 396 trường hợp). Tất cả bệnh nhi đều là loét DDTT nguyên phát. ThS Nguyễn Phúc Thịnh cho biết, đây là một con số có ý nghĩa vì những nghiên cứu khác kéo dài nhiều năm mà số bệnh nhi loét ít hơn.
Năm 2009, tại BV Nhi Đồng 2, trong 9 tháng chỉ có 10 trường loét DDTT trong hơn 200 trường hợp viêm DDTT đã được chẩn đoán qua nội soi. Điều này có thể do kỹ thuật nội soi ở trẻ em ngày càng tiến bộ, an toàn hơn và chỉ định nội soi ngày càng rộng rãi, số lượng nội soi ngày càng nhiều. 
Trong khi đó, nghiên cứu ở Đài Loan của Shu Ching Hang kéo dài trong 9 năm từ 1999 - 2008 chỉ có 67 trường hợp loét DDTT trong 1234 trường hợp nội soi trong đó chỉ có 32 (47,7%) loét DDTT nguyên phát do Helicobacter pylori.
Bệnh không thường gặp nhưng nguy hiểm
Theo BS. Nguyễn Phúc Thịnh, có khoảng 15% các bệnh nhi đã được điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori ít nhất 1 lần cách thời điểm nội soi lần này cách đây hơn 1 năm. Đây là số bệnh nhi cần theo dõi vì thật sự chưa biết bệnh nhi đã điều trị đã lành tái phát hay điều trị thất bại mà không được theo dõi. Có 2 trường hợp (3,8%) có tiền căn gia đình trực hệ bị ung thư dạ dày trước khi loét DDTT. Có 2 trường hợp sốc mất máu do xuất huyết tiêu hóa mức độ nặng, chiếm 3,8% trong 4 trường hợp thiếu máu mức độ nặng phải nhập viện cấp cứu.
Biến chứng của loét DDTT có thể dẫn đến sốc mất máu, thiếu máu rất nặng, thậm chí tử vong nếu không điều trị kịp thời. Đại đa số các trường hợp được truyền dưới 10ml/kg hồng cầu lắng (49,1%), có hơn 20% các trường hợp phải truyền hơn 10 ml/kg hồng cầu lắng trước nội soi. Điều này cho thấy, loét DDTT không phải là bệnh thường gặp nhưng nguy hiểm bởi có thể ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ.
Tỉ lệ phát hiện Helicobacter pylori trên giải phẫu bệnh là rất cao
Tỉ lệ phát hiện Helicobacter pylori trên giải phẫu bệnh là rất cao
Giải phẫu bệnh tìm Helicobacter pylori có tỉ lệ dương tính (98,1%). Tỉ lệ phát hiện Helicobacter pylori trên giải phẫu bệnh là rất cao. Kết quả nội soi hầu hết là loét tá tràng (96,1%), chỉ có 2 trẻ loét dạ dày (3,8%). BS. Thịnh cho biết, đây là một dấu hiệu cần phải xem xét và theo dõi thêm, vì theo các nghiên cứu trước đây không có một nghiên cứu nào có tỉ lệ bệnh loét DDTT lớn đến như vậy. Theo nghiên cứu của El Mouzan MI tại Ả rập Saudi, trên 24 trẻ loét thì có 92% là loét tá tràng.
Đáng lo ngại điều trị tiệt trừ với phác đồ đầu tiên ở các trẻ bị loét DDTT có tỉ lệ thất bại rất cao lên tới 51,5%. Dù các bệnh nhân này dùng đúng liều, đúng thời gian và đúng giờ, chiếm tới 96,3%. Vấn đề điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori thất bại đã được rất nhiều nghiên cứu đề cập đến với tỉ lệ khác nhau. 

Sự đề kháng với kháng sinh với tỉ lệ rất cao có thể góp phần là một trong những nguyên nhân gây thất bại với điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori. Trong đó đáng chú ý với tỉ lệ đề kháng với Clarithromycin cao đến 87,5%, kháng Metronidazole đến 66,7% và kháng Amoxicillin đến 20,8%.